Chữ viết trên tường
Trong bảy năm tiếp theo, Đa-ni-ên lại chìm vào cảnh ít được biết đến trong cung điện của Bên-xát-sa. Sau đó, trong một buổi tiệc lớn với sự say sưa quá độ, ca ngợi các thần tượng nhỏ, và làm ô uế những đồ dùng lấy từ đền thờ Sa-lô-môn, Bên-xát-sa thấy một ngón tay viết những điều khó hiểu trên tường. Khi Đa-ni-ên cuối cùng được gọi đến để giải thích, thông điệp là sự kiêu ngạo của Bên-xát-sa đã khiến vua mất mạng. Như thể để ngăn chặn sự phán xét của Đức Chúa Trời, Bên-xát-sa đã đưa Đa-ni-ên lên vị trí cao thứ ba trong chính quyền của mình. Nhưng đến cuối đêm, Bên-xát-sa đã chết.
Bữa tiệc của vua Bên-xát-sa. — Đế-quốc Canh-đê suy-sụp
5 1 Vua Bên-xát-sa dọn tiệc lớn đãi một ngàn đại-thần mình, và vua uống rượu trước mặt họ. 2 Vua Bên-xát-sa đương nhấm rượu, truyền đem những khí-mạnh bằng vàng và bạc mà vua Nê-bu-cát-nết-sa, cha mình, đã lấy trong đền-thờ tại Giê-ru-sa-lem, hầu cho vua và các đại-thần, cùng các hoàng-hậu và cung-phi vua dùng mà uống. 3 Người ta bèn đem đến những khí-mạnh bằng vàng đã lấy từ trong đền-thờ của nhà Đức Chúa Trời, tại Giê-ru-sa-lem; và vua cùng các đại-thần, các hoàng-hậu và cung-phi mình dùng mà uống. 4 Vậy họ uống rượu và ngợi-khen các thần bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, bằng sắt, bằng gỗ và bằng đá.
5 Chính giờ đó, có những ngón tay của bàn tay người hiện ra, viết trên vôi tường cung vua, đối ngay chỗ để chơn đèn; và vua trông thấy phần bàn tay đó đương viết. 6 Bấy giờ vua biến sắc mặt, các ý-tưởng làm cho vua bối-rối; các xương lưng rời khớp ra, và hai đầu-gối chạm vào nhau. 7 Vua kêu lớn tiếng truyền vời các thuật-sĩ, người Canh-đê, và thầy bói đến. Đoạn, vua cất tiếng và nói cùng những bác-sĩ của Ba-by-lôn rằng: Ai đọc được chữ nầy và giải nghĩa ra cho ta, thì sẽ được mặc màu tía, được đeo vòng vàng vào cổ, và được dự bậc thứ ba trong việc chánh-trị nhà-nước. 8 Bấy giờ hết thảy bác-sĩ của vua đều vào; nhưng họ không đọc được chữ, cũng không thể cắt nghĩa cho vua được. 9 Vua Bên-xát-sa lấy làm bối-rối lắm; sắc mặt người đổi đi; các quan đại-thần đều bỡ-ngỡ.
10 Bà thái-hậu, vì cớ lời của vua và các quan đại-thần đã nói, bèn vào trong phòng tiệc, cất tiếng nói rằng: Hỡi vua, chúc vua sống đời đời! Xin vua chớ để tư-tưởng bối-rối, chớ đổi sắc mặt đi! 11 Trong nước vua có một người, linh của các thần thánh ở trong nó. Về đời vua cha, người ta thấy trong nó có ánh sáng, sự thông-minh, khôn-ngoan, như sự khôn-ngoan của các vì thần. Vậy nên vua Nê-bu-cát-nết-sa, cha vua, chính cha vua, đã lập người lên làm đầu các đồng-bóng, thuật-sĩ, người Canh-đê và thầy bói, 12 bởi vì Đa-ni-ên mà vua đã đặt tên là Bên-tơ-xát-sa, trong người có linh-tánh tốt-lành, có sự thông-biết và khôn-sáng để giải được những điềm chiêm-bao, cắt nghĩa được những câu kín-nhiệm, và làm cho những sự hồ-nghi tan-chảy. Vậy bây giờ hãy sai gọi Đa-ni-ên, và người sẽ giải nghĩa cho.
13 Bấy giờ Đa-ni-ên được đem đến trước mặt vua. Đoạn, vua cất tiếng nói cùng Đa-ni-ên rằng: Ngươi có phải là Đa-ni-ên, một trong các con-cái phu-tù Giu-đa, mà vua cha ta đã điệu từ Giu-đa về chăng? 14 Ta đã nghe nói về ngươi rằng linh của các thần ở trong ngươi, và người ta đã thấy trong ngươi có ánh sáng, sự thông-minh, và khôn-ngoan lạ thường. 15 Bây giờ những bác-sĩ và thuật-sĩ đã được đem đến trước mặt ta để đọc những chữ nầy và giải nghĩa cho ta; nhưng họ không giải nghĩa được. 16 Ta nghe nói rằng ngươi có thể giải nghĩa và làm cho những sự hồ-nghi tan-chảy. Vậy nếu ngươi đọc được chữ nầy và giải nghĩa cho ta, thì sẽ được mặc màu tía, sẽ mang vòng vàng nơi cổ, và dự chức thứ ba trong việc chánh-trị nhà-nước.
17 Bấy giờ Đa-ni-ên cất tiếng và nói trước mặt vua rằng: Vua hãy giữ lại của ban-thưởng, và lễ-vật vua hãy ban cho kẻ khác! Dầu vậy, tôi sẽ đọc chữ viết đó và giải nghĩa cho vua. 18 Hỡi vua, Đức Chúa Trời Rất Cao đã ban ngôi vua và quyền-thế lớn, sự tôn-vinh và uy-nghiêm cho cha vua là Nê-bu-cát-nết-sa. 19 Vì cớ Ngài đã ban cho người quyền to, thì hết thảy các dân, các nước, các thứ tiếng đều run-rẩy trước mặt người, và sợ-hãi người. Người muốn giết ai thì giết, và muốn để ai sống thì để. Người nâng ai cao lên hay hạ ai thấp xuống thì tùy ý người. 20 Nhưng vì lòng người tự-cao, và tánh người cứng-cỏi, làm một cách kiêu-ngạo, nên người bị truất mất ngôi vua và lột hết sự vinh-hiển. 21 Người bị đuổi khỏi giữa các con trai loài người; lòng người trở nên giống như lòng súc-vật, và chỗ-ở người thì cùng với những lừa rừng. Người bị nuôi bằng cỏ như bò, và thân người bị nhuần-thấm sương-móc trên trời, cho đến khi người nhận-biết rằng Đức Chúa Trời Rất Cao cai-trị trong nước loài người, và Ngài muốn lập ai lên đó tùy ý.
22 Hỡi vua Bên-xát-sa, con của người, vua cũng vậy, dầu vua đã biết hết các việc ấy, mà lòng vua cũng không chịu nhún-nhường chút nào; 23 nhưng vua đã lên mình nghịch cùng Chúa trên trời, mà khiến đem đến trước vua những khí-mạnh của nhà Ngài, và dùng mà uống rượu, cùng với các quan đại-thần, các hoàng-hậu và cung-phi vua. Vua cũng đã tôn-vinh các thần bằng bạc, bằng vàng, bằng đồng, bằng sắt, bằng gỗ và bằng đá, là những thần không thấy không nghe không biết gì; và vua không thờ-phượng Đức Chúa Trời là Đấng cầm trong tay Ngài hơi-thở và hết thảy các đường-lối của vua. 24 Vậy nên từ nơi Ngài đã sai phần bàn tay nầy đến, và chữ đó đã vạch ra. 25 Những chữ đã vạch ra như sau nầy:
mê-nê, mê-nê, tê-ken, u-phác-sin
26 Nầy là nghĩa những chữ đó: Mê-nê là: Đức Chúa Trời đã đếm nước vua và khiến nó đến cuối-cùng. 27 Tê-ken là: Vua đã bị cân trên cái cân, và thấy là kém-thiếu. 28 Phê-rết là: Nước vua bị chia ra, được ban cho người Mê-đi và người Phe-rơ-sơ.
29 Tức thì, theo lịnh truyền của vua Bên-xát-sa, người ta mặc màu tía cho Đa-ni-ên; đeo vào cổ người một vòng vàng, và rao ra rằng người được dự chức thứ ba trong việc chánh-trị nhà-nước.
30 Ngay đêm đó, vua người Canh-đê là Bên-xát-sa bị giết. 31 Rồi Đa-ri-út là người Mê-đi được nước, bấy giờ tuổi người độ sáu mươi hai.
Ai thực sự giết Bên-xát-sa thì không rõ, nhưng có lẽ là Đa-ri-út người Mê-đi. Tuy nhiên, điều đó chỉ làm phức tạp thêm vấn đề, vì danh tính của Đa-ri-út còn chưa rõ ràng. Chắc chắn ông không phải là Đa-ri-út cả của Ba Tư, người sẽ lên ngôi khoảng 20 năm sau đó. Hầu hết các suy đoán tập trung vào một người tên Gô-bi-át (hay Gu-ba-ru), người đôi khi được xác định là một đồng minh của Si-ru và là thống đốc của dân tộc Gu-ti-um, người đã chiếm Ba-by-lôn từ tay người Ba-by-lôn. Dù ông thực sự là ai, Đa-ri-út người Mê-đi này sẽ kiểm soát quốc gia trong khoảng ba năm trước khi ông thấy chữ viết của chính mình trên tường, và thực tế giao Ba-by-lô-ni-a cho Đế chế Ba Tư đang lên.
Bảy mười “Bảy”
Vào một thời điểm nào đó trong năm đầu triều đại của Đa-ri-út người Mê-đi, Đa-ni-ên đọc một bản sao lời tiên tri của Giê-rê-mi. Rõ ràng các bản sao đã được lưu hành trong số những người bị đày từ khi Ba-rúc viết những lời cuối cùng trên cuốn thứ ba 20 năm trước đó. Đa-ni-ên đặc biệt cảm động bởi việc kể lại về tội lỗi của Y-sơ-ra-ên và cuộc lưu đày 70 năm mà Giê-rê-mi đã tiên đoán. Tại đây vào năm 542 trước Công nguyên, đã trải qua 63 năm kể từ khi Đa-ni-ên và những người lưu đày khác bị bắt trong đợt đầu tiên, vào năm 605 trước Công nguyên. Nhận ra rằng lời tiên tri cho thấy còn bảy năm nữa trước khi sự phục hồi được hứa sẽ bắt đầu, Đa-ni-ên quay về với Đức Chúa Trời trong lời cầu nguyện. Đây là lời cầu nguyện của ông, trong đó ông không chỉ thú tội tội lỗi của chính mình mà còn cả tội lỗi của những người con trai đồng bào Y-sơ-ra-ên.
Sự cầu-nguyện của Đa-ni-ên. — Lời tiên-tri về bảy mươi tuần-lễ
9 1 Năm đầu Đa-ri-út, con trai A-suê-ru, về dòng người Mê-đi, đã được lập làm vua trị nước người Canh-đê; 2 đương năm đầu về triều người, ta, Đa-ni-ên, bởi các sách biết rằng số năm mà lời Đức Giê-hô-va đã phán cùng đấng tiên-tri Giê-rê-mi, để cho trọn sự hoang-vu thành Giê-ru-sa-lem, là bảy mươi năm. 3 Ta để mặt hướng về Chúa là Đức Chúa Trời, lấy sự khấn-nguyện, nài-xin, với sự kiêng-ăn, mặc bao gai, đội tro mà tìm.
4 Vậy, ta cầu-nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta, và ta xưng tội cùng Ngài mà rằng: Ôi! Chúa là Đức Chúa Trời cao-cả và đáng khiếp-sợ! Ngài giữ lời giao-ước và sự nhơn-từ đối với những kẻ yêu Ngài và giữ các điều-răn Ngài, 5 chúng tôi đã phạm tội, làm sự trái-ngược, ăn-ở hung-dữ, chúng tôi đã bạn-nghịch và đã xây-bỏ các giềng-mối và lệ-luật của Ngài. 6 Chúng tôi đã không nghe các tôi-tớ Ngài là các đấng tiên-tri, đã lấy danh Ngài mà nói cùng các vua, các quan-trưởng, các tổ-phụ chúng tôi, và cùng cả dân trong đất. 7 Hỡi Chúa, sự công-bình thuộc về Ngài, còn sự hổ mặt về chúng tôi, như ngày nay; sự ấy bao-trùm người Giu-đa, dân-cư Giê-ru-sa-lem, hết thảy người Y-sơ-ra-ên ở gần ở xa, trong mọi nước mà Ngài đã làm cho họ tan-tác, vì cớ những sự gian-ác họ đã phạm nghịch cùng Ngài. 8 Hỡi Chúa, sự hổ mặt thuộc về chúng tôi, về các vua, các quan-trưởng, các tổ-phụ chúng tôi, bởi chúng tôi đã phạm tội nghịch cùng Ngài. 9 Những sự thương-xót và tha-thứ đều thuộc về Chúa là Đức Chúa Trời chúng tôi; bởi chúng tôi đã bạn-nghịch cùng Ngài.
10 Chúng tôi đã chẳng nghe lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, đặng bước đi trong luật-pháp mà Ngài đã cậy tôi-tớ Ngài là các đấng tiên-tri để trước mặt chúng tôi. 11 Hết thảy người Y-sơ-ra-ên đã phạm luật-pháp Ngài và xây đi để không vâng theo tiếng Ngài. Vậy nên sự rủa-sả, và thề-nguyền chép trong luật-pháp Môi-se là tôi-tớ Đức Chúa Trời, đã đổ ra trên chúng tôi, vì chúng tôi đã phạm tội nghịch cùng Ngài. 12 Ngài đã làm cho chắc các lời đã phán nghịch cùng chúng tôi, cùng các quan-án đã đoán-xét chúng tôi, mà khiến tai-vạ lớn đến trên chúng tôi; vì khắp dưới trời chẳng hề có tai-vạ nào giống như đã làm ra trên Giê-ru-sa-lem. 13 Cả tai-vạ nầy đã đến trên chúng tôi như có chép trong luật-pháp Môi-se; mà chúng tôi cũng không nài-xin ơn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, đặng xây-bỏ khỏi sự gian-ác mình và thấu rõ đạo thật của Ngài. 14 Bởi cớ đó, Đức Giê-hô-va ngắm xem và giáng tai-vạ ấy trên chúng tôi; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi là công-bình trong mọi việc Ngài làm, chỉn chúng tôi không vâng theo tiếng Ngài.
15 Bây giờ, hỡi Chúa là Đức Chúa Trời chúng tôi, Ngài đã lấy tay mạnh đem dân Ngài ra khỏi đất Ê-díp-tô, đã làm nên cho mình một danh-tiếng như ngày nay; còn chúng tôi đã phạm tội, đã làm việc ác. 16 Hỡi Chúa, tôi cầu-xin Chúa cứ mọi sự công-bình Ngài khiến cơn giận và thạnh-nộ của Ngài xây khỏi thành Giê-ru-sa-lem Ngài, tức là núi thánh Ngài; vì ấy là bởi tội-lỗi chúng tôi và sự gian-ác tổ-phụ chúng tôi mà Giê-ru-sa-lem và dân Ngài phải chịu những kẻ ở chung-quanh chúng tôi sỉ-nhục. 17 Cho nên bây giờ, hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi, xin đoái nghe lời khấn-nguyện nài-xin của kẻ tôi-tớ Ngài! Xin vì cớ Chúa, hãy rạng mặt Ngài ra trên nơi thánh vắng-vẻ của Ngài! 18 Hỡi Đức Chúa Trời tôi, xin ghé tai và nghe. Xin mở mắt nhìn-xem những nơi hoang-vu của chúng tôi, và thành đã được xưng bởi danh Ngài! Không phải cậy những sự công-bình mình mà chúng tôi nài-xin Ngài, nhưng cậy những sự thương-xót cả-thể của Ngài. 19 Hỡi Chúa! hãy dủ nghe; hỡi Chúa! hãy tha-thứ; hỡi Chúa! hãy để ý và làm đi. Hỡi Đức Chúa Trời tôi! vì cớ chính Ngài, xin chớ trì-huỡn; vì thành Ngài và dân Ngài đã được xưng bằng danh Ngài!
Một trong những đoạn hấp dẫn nhất trong toàn bộ Kinh Thánh theo sau bản tường thuật về lời cầu nguyện sám hối tuyệt đẹp của Đa-ni-ên. Khi Đa-ni-ên đang trong thời gian cầu nguyện, thiên sứ Gáp-ri-ên, người mà ông nhận ra từ những khải tượng trước đó, đến gặp ông. Gáp-ri-ên mang một thông điệp về bảy mười “bảy”, một thông điệp dường như đáp lại mối quan tâm của Đa-ni-ên về sự phục hồi. Có sự đồng thuận chung rằng mỗi “bảy” đại diện cho một tuần năm – tức là bảy năm. Từ điểm đó trở đi đã có nhiều cuộc thảo luận.
Bảy “bảy” đầu tiên, hay 49 năm, có thể ám chỉ thời gian cần thiết để xây dựng lại thành Giê-ru-sa-lem. Nhưng sắc lệnh cụ thể quy định thời gian đó bắt đầu được tranh luận rất nhiều dựa trên các sắc lệnh khác nhau sẽ ban hành về việc tái thiết Giê-ru-sa-lem.
Bộ “bảy” thứ hai, 62 “bảy”, có vẻ như ám chỉ sự đến của Đấng Mê-si. (Văn bản tiếng Hê-bơ-rơ nói có 69 “bảy”, trong khi con số được sử dụng trong hầu hết các bản dịch là 62, điều này có thể hoặc không đơn giản là 69 trừ đi bảy “bảy” đầu tiên.) Điều này sẽ đặt sự đến của Đấng Mê-si vào khoảng 550 năm kể từ thời Đa-ni-ên.
Như với những tuần trước đó, tuần cuối cùng, hay bảy năm cuối, cũng đã là chủ đề của nhiều thảo luận. Một số tin rằng nó đại diện cho sự khởi đầu của hội thánh Đấng Mê-si và thời đại sứ đồ. Những người khác tin rằng nó báo trước một giai đoạn bảy năm trong đó Đức Chúa Trời sẽ tái lập Y-sơ-ra-ên như dân giao ước của Ngài trước sự tái lâm lần thứ hai của Đấng Mê-si. Điều mà tất cả đều đồng ý là thực tế rằng Đức Chúa Trời đang làm việc có mục đích trong lịch sử vì lợi ích của những người công chính của Ngài.
20 Ta còn đương nói và cầu-nguyện, xưng tội-lỗi ta và tội-lỗi dân Y-sơ-ra-ên ta, và ta dâng lời nài-xin trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta, vì núi thánh Đức Chúa Trời ta; 21 Vậy ta còn nói trong khi cầu-nguyện, nầy, Gáp-ri-ên, người mà ta đã thấy trong sự hiện-thấy lúc đầu-tiên, được sai bay mau đến đụng ta độ lúc dâng lễ chiều-hôm. 22 Người dạy-dỗ ta và nói cùng ta rằng: Hỡi Đa-ni-ên, bây giờ ta ra để ban sự khôn-ngoan và thông-sáng cho ngươi. 23 Lời phán-dặn đã ra từ khi ngươi bắt đầu nài-xin; và ta đến để tỏ lời đó cho ngươi, vì ngươi đã được yêu-quí lắm. Vậy hãy suy-nghĩ sự đó và hãy hiểu-biết sự hiện-thấy.
24 Có bảy mươi tuần-lễ định trên dân ngươi và thành thánh ngươi, đặng ngăn sự phạm-phép, trừ tội-lỗi, làm sạch sự gian-ác, và đem sự công-bình đời đời vào, đặng đặt ấn-tín nơi sự hiện-thấy và lời tiên-tri, và xức dầu cho Đấng rất thánh. 25 Ngươi khá biết và hiểu rằng từ khi ra lịnh tu-bổ và xây lại Giê-ru-sa-lem, cho đến Đấng chịu xức dầu, tức là vua, thì được bảy tuần-lễ, và sáu mươi hai tuần-lễ; thành đó sẽ được xây lại, có đường-phố và hào, trong kỳ khó-khăn.
26 Sau sáu mươi hai tuần-lễ đó, Đấng chịu xức dầu sẽ bị trừ đi, và sẽ không có chi hết. Có dân của vua hầu đến sẽ hủy-phá thành và nơi thánh; cuối-cùng nó sẽ như bị nước lụt ngập, có sự tranh-chiến cho đến cuối-cùng; những sự hoang-vu đã định. 27 Người sẽ lập giao-ước vững-bền với nhiều người trong một tuần-lễ, và đến giữa tuần ấy, người sẽ khiến của-lễ và của-lễ chay dứt đi. Kẻ hủy-phá sẽ đến bởi cánh gớm-ghiếc, và sẽ có sự giận-dữ đổ trên nơi bị hoang-vu, cho đến kỳ sau-rốt, là kỳ đã định.