Ngày 04 tháng Giêng

< Lui    Trang Lịch     Tới >

Đọc Sáng thế ký 11:1 - 32

Sự Phân Tán của Gia Đình Loài Người 
   Cùng với câu chuyện về tội lỗi của chính Nô-ê và con trai ông là Cham, sách Sáng Thế Ký cũng cho thấy sự sa đọa liên tục của loài người khi tập trung vào gia đình loài người đang tái sinh trên đồng bằng Si-nê-a, một vùng được biết đến nhiều hơn là Ba-bên. Khoảng năm 2500 trước Công Nguyên, con người đầy tham vọng quyết định xây một thành phố lớn, được biết đến là Ba-bên, cùng với một tháp cao đến nỗi, theo nghĩa bóng, nó sẽ chạm tới "các tầng trời." Đây không phải là thành phố đầu tiên được xây dựng, và bản thân tháp có lẽ được thiết kế rất giống với các đền đài dạng tháp bậc của người Ba-bên, những di tích của nó vẫn còn được tìm thấy nhiều thế kỷ sau đó. Nhưng Đức Chúa Trời không hài lòng với những kế hoạch vĩ đại này, rõ ràng vì động cơ của con người mang tính thách thức và tự phụ chống lại Đức Chúa Trời.
   Trước tình hình này, Đức Chúa Trời quyết định nhắc nhở loài người một lần nữa về những giới hạn của họ. Cho đến lúc này, mọi người đều là một phần của một gia đình mở rộng đang phát triển nhanh chóng, và do đó mọi người đều nói cùng một ngôn ngữ. Để phá vỡ sức mạnh tự ý của sự thống nhất này, Đức Chúa Trời can thiệp bằng quyền năng sáng tạo và thiêng liêng của Ngài để làm rối loạn ngôn ngữ của họ và phân tán loài người khắp đất. Đây là khởi đầu không chỉ của các ngôn ngữ khác nhau mà còn của các dân tộc khác nhau. Lần đầu tiên loài người bị chia thành các bộ lạc, quốc gia, và thậm chí các nguồn gốc dân tộc khác nhau. Mặc dù sách Sáng Thế Ký không đề cập cụ thể về điều này, có thể sự kiện siêu nhiên này cũng khởi đầu sự phân chia con người thành các chủng tộc khác nhau. Và hàm ý sẽ rất quan trọng: dù có những khác biệt bên ngoài, vẫn có một nền tảng chung buộc tình huynh đệ bởi sự sáng tạo và sự bình đẳng giữa mọi người không phân biệt chủng tộc, quốc gia hay ngôn ngữ.

Tháp Ba-bên

11 1 Vả, cả thiên-hạ đều có một giọng nói và một thứ tiếng. 2 Nhưng khi ở Đông-phương dời đi, người ta gặp một đồng bằng trong xứ Si-nê-a, rồi ở tại đó. 3 Người nầy nói với người kia rằng: Hè! chúng ta hãy làm gạch và hầm trong lửa.— Lúc đó, gạch thế cho đá, còn chai thế cho hồ. — 4 Lại nói rằng: Nào! chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một cái tháp, chót cao đến tận trời; ta hãy lo làm cho rạng danh, e khi phải tản-lạc khắp trên mặt đất. 5 Đức Giê-hô-va bèn ngự xuống đặng xem cái thành và tháp của con-cái loài người xây nên. 6 Đức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, chỉ có một thứ dân, cùng đồng một thứ tiếng; và kia kìa công-việc chúng nó đương khởi làm; bây giờ chẳng còn chi ngăn chúng nó làm các đều đã quyết-định được. 7 Thôi! chúng ta hãy xuống, làm lộn-xộn tiếng nói của chúng nó, cho họ nghe không được tiếng nói của người nầy với người kia. 8 Rồi, từ đó Đức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công-việc xây-cất thành. 9 Bởi cớ đó đặt tên thành là Ba-bên, vì nơi đó Đức Giê-hô-va làm lộn-xộn tiếng nói của cả thế-gian, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất.

Sự Hình Thành Các Dân Tộc

   Khi loài người bắt đầu phân tán khắp trái đất, các gia đình bắt đầu chia thành các bộ tộc, và các bộ tộc phát triển thành các quốc gia. Bản ghi chép sớm nhất về sự phân chia về địa lý, quốc gia và ngôn ngữ trong gia đình nhân loại được ghi lại trong sách Sáng Thế Ký. Bảng phả hệ này bắt đầu với Sem, Cham và Gia-phết, ba thế hệ trước sự phân chia lớn tại tháp Ba-bên. Trong bản ghi chép này, trước tiên là sự truy nguyên ngắn gọn về Gia-phết, bảy người con trai và bảy người cháu trai của ông, đặc biệt là các con cháu qua con trai Giavan của Gia-phết, những người bắt đầu di chuyển về phía bắc đến các vùng ven biển của Caspian, Biển Đen và Địa Trung Hải. Phần đề cập đến người Gia-phết có thể ngắn gọn vì những người Ấn-Âu này sẽ là những người phát triển muộn nhất và sẽ có ít tiếp xúc nhất với chế độ thần quyền của dân Hê-bơ-rơ, đối tượng mà văn bản Kinh Thánh sẽ sớm tập trung vào.
Bảng các dân tộc dành nhiều sự chú ý hơn cho con cháu của Cham, có lẽ vì họ sẽ phát triển sớm và trở thành những người sáng lập các đế chế đầu tiên, và có lẽ cũng vì chính với những dân tộc này mà dân tộc Hê-bơ-rơ sẽ có mối quan hệ gần gũi nhất và nhiều xung đột nhất. Con cháu của Cham sẽ định cư ở những vùng khí hậu ấm áp hơn ở phía nam trái đất và sẽ tạo nên các quốc gia Ai Cập, Ca-na-an và Ả Rập. Đặc biệt đáng chú ý trong số con cháu của Cham là vị chiến binh vĩ đại Nim-rốt, người đầu tiên được ghi nhận thiết lập chế độ quân chủ. Quyền cai trị của ông trên nhiều bộ tộc dường như đến từ sức mạnh chinh phục chứ không phải vì ông là người đứng đầu tộc trưởng tự nhiên. Chính Nim-rốt người đã thiết lập Ba-bên (từ thành phố Ba-bên) ở nam Mê-sô-pô-ta-mi-a, và sau đó là thành phố Ni-ni-ve, xa hơn về phía bắc ở A-si-ri.
Có ý nghĩa lịch sử quan trọng là bản ghi chép về con cháu của Cham thông qua Ca-na-an, con trai của Cham, người mà Nô-ê đã nguyền rủa. Vùng đất mà cuối cùng sẽ bị người Ca-na-an chiếm đóng được biết đến như đất Ca-na-an hay theo cách gọi hiện đại hơn là Y-sơ-ra-ên. Cư dân Ca-na-an ban đầu của nó, bao gồm người Hê-tít, người Giê-bu-sít và người A-mô-rít, sẽ đi vào xung đột với con cháu của Sem, chủ yếu là những người thuộc dân tộc Hê-bơ-rơ. Cuộc xung đột đó, thể hiện bản chất tiên tri của lời nguyền của Nô-ê đối với Ca-na-an, sẽ tiếp tục cho đến tận thời hiện đại.
Về con cháu của Sem, bảng các dân tộc tập trung vào dòng dõi thông qua con trai Sem là A-bác-sát. Lý do chính chắc chắn nằm ở ý nghĩa thần học của dòng dõi thông qua A-bác-sát. Chính thông qua nhánh này của người Sem mà (sau tám thế hệ) tổ phụ của dân tộc Hê-bơ-rơ, Abraham, sẽ xuất hiện. Người Sem, sau này được biết đến là người Semitic, ban đầu sẽ định cư chủ yếu ở vùng Mê-sô-pô-ta-mi-a, giữa các sông Tigris và Ê-phơ-rát. Từ những người Sem đầu tiên này sẽ xuất hiện người Sy-ri, người A-si-ri, người Ả Rập Giốc-tan và quan trọng nhất là người Hê-bơ-rơ.

Dòng-dõi của Gia-phết

10 1 Đây là dòng-dõi của Sem, Cham và Gia-phết, ba con trai của Nô-ê; sau khi lụt, họ sanh con-cái.

2 Con trai của Gia-phết là Gô-me, Ma-gốc, Ma-đai, Gia-van, Tu-banh, Mê-siếc, và Ti-ra. 3 Con trai của Gô-me là Ách-kê-na, Ri-phát, và Tô-ga-ma. 4 Con trai của Gia-van là Ê-li-sa và Ta-rê-si, Kít-tim và Đô-đa-nim.

5 Do họ mà có người ta ở tràn ra các cù-lao của các dân, tùy theo xứ, tiếng nói, chi-phái và dân-tộc của họ mà chia ra.

Dòng-dõi của Cham

6 Con trai của Cham là Cúc, Mích-ra-im, Phút và Ca-na-an. 7 Con trai của Cúc là Sê-ba, Ha-vi-la, Sáp-ta, Ra-ê-ma và Sáp-tê-ca; con trai của Ra-ê-ma là Sê-ba và Đê-đan.

8 Cúc sanh Nim-rốt, ấy là người bắt đầu làm anh-hùng trên mặt đất. 9 Người là một tay thợ săn can đảm trước mặt Đức Giê-hô-va. Bởi cớ đó, có tục-ngữ rằng: Hệt như Nim-rốt, một tay thợ săn can-đảm trước mặt Đức Giê-hô-va! 10 Nước người sơ-lập là Ba-bên, Ê-rết, A-cát và Ca-ne ở tại xứ Si-nê-a. 11 Từ xứ đó người đến xứ A-si-ri, rồi lập thành Ni-ni-ve, Rê-hô-bô-ti, Ca-lách, 12 và thành Rê-sen, là thành rất lớn, ở giữa khoảng thành Ni-ni-ve và Ca-lách.

13 Mích-ra-im sanh họ Lu-đim, họ A-na-mim, họ Lê-ha-bim, họ Náp-tu-him, 14 họ Bát-ru-sim, họ Cách-lu-him (bởi đó sanh họ Phi-li-tin), và họ Cáp-tô-rim.

15 Ca-na-an sanh Si-đôn, là con trưởng-nam, và Hếch, 16 cùng họ Giê-bu-sít, họ A-mô-rít, họ Ghi-rê-ga-sít, 17 họ Hê-vít, họ A-rê-kít, họ Si-nít, 18 họ A-va-đít, họ Xê-ma-rít, họ Ha-ma-tít. Kế đó, chi-tộc Ca-na-an đi tản-lạc. 19 Còn địa-phận Ca-na-an, về hướng Ghê-ra, chạy từ Si-đôn tới Ga-xa; về hướng Sô-đôm, Gô-mô-rơ, Át-ma và Sê-bô-im, chạy đến Lê-sa.

20 Đó là con cháu của Cham, tùy theo họ-hàng, tiếng nói, xứ và dân-tộc của họ.

Dòng-dõi của Sem

21 Sem, tổ-phụ của họ Hê-be và anh cả của Gia-phết, cũng có sanh con trai.

22 Con trai của Sem là Ê-lam, A-su-rơ, A-bác-sát, Lút và A-ram.

23 Con trai của A-ram là U-xơ, Hu-lơ, Ghê-te và Mách.

24 Còn A-bác-sát sanh Sê-lách; Sê-lách sanh Hê-be, 25 Hê-be sanh được hai con trai; tên của một người là Bê-léc, vì đất trong đời người đó đã chia ra; tên của người em là Giốc-tan. 26 Giốc-tan sanh A-mô-đát, Sê-lép, Ha-sa-ma-vết và Giê-rách, 27 Ha-đô-ram, U-xa, Điếc-la, 28 Ô-banh, A-bi-ma-ên, Sê-ba, 29 Ô-phia, Ha-vi-la và Giô-báp. Hết thảy các người đó là con trai của Giốc-tan. 30 Cõi đất của các người đó ở về phía Sê-pha, chạy từ Mê-sa cho đến núi Đông-phương.

31 Đó là con cháu của Sem, tùy theo họ-hàng, tiếng nói, xứ và dân-tộc của họ.

32 Ấy là các họ-hàng của ba con trai Nô-ê tùy theo đời và dân-tộc của họ; lại cũng do nơi họ mà các dân chia ra trên mặt đất sau cơn nước lụt.

Dòng dõi từ Sem đến Áp-ram

   Sau bảng kê này về các dân tộc, ký thuật sách Sáng Thế Ký hầu như im lặng về cư dân trên trái đất ngoại trừ con cháu của Sem thông qua A-bác-sát: Sê-lách, Hê-be, Bê-léc, và những người khác cho đến Áp-ram, người sau này được biết đến là Áp-ra-ham, sẽ trở thành tổ phụ của người Hê-bơ-rơ. Đây là gia đình được hứa ban qua đó Đức Chúa Trời sẽ bảo tồn lẽ thật tôn giáo và đạo đức. Chính thông qua dân tộc Hê-bơ-rơmà Đức Chúa Trời cuối cùng sẽ phán với cả thế giới. Do đó điều quan trọng là ký thuật sách Sáng Thế Ký phải truy nguyên tổ tiên của Áp-ram về đến Sem, người thông qua cha mình là Nô-ê, xuất phát từ người đầu tiên, A-đam.

Tổ-tông dân Y-sơ-ra-ên từ Áp-ra-ham đến Giô-sép
(Từ 11 : 10 đến 50)

Gia-phổ của Áp-ram

10 Đây là dòng-dõi của Sem: Cách hai năm, sau cơn nước lụt, Sem được một trăm tuổi, sanh A-bác-sát. 11 Sau khi Sem sanh A-bác-sát rồi, còn sống được năm trăm năm, sanh con trai con gái.

12 A-bác-sát được ba mươi lăm tuổi, sanh Sê-lách. 13 Sau khi A-bác-sát sanh Sê-lách rồi, còn sống được bốn trăm ba năm, sanh con trai con gái.

14 Sê-lách được ba mươi tuổi, sanh Hê-be. 15 Sau khi Sê-lách sanh Hê-be rồi, còn sống được bốn trăm ba năm, sanh con trai con gái.

16 Hê-be được ba mươi bốn tuổi, sanh Bê-léc. 17 Sau khi Hê-be sanh Bê-léc rồi, còn sống được bốn trăm ba mươi năm, sanh con trai con gái.

18 Bê-léc được ba mươi tuổi, sanh Rê-hu. 19 Sau khi Bê-léc sanh Rê-hu rồi, còn sống được hai trăm chín năm, sanh con trai con gái.

20 Rê-hu được ba mươi hai tuổi, sanh Sê-rúc. 21 Sau khi Rê-hu sanh Sê-rúc rồi, còn sống được hai trăm bảy năm, sanh con trai con gái.

22 Sê-rúc được ba mươi tuổi, sanh Na-cô. 23 Sau khi Sê-rúc sanh Na-cô rồi, còn sống được hai trăm năm, sanh con trai con gái.

24 Na-cô được hai mươi chín tuổi, sanh Tha-rê. 25 Sau khi Na-cô sanh Tha-rê rồi, còn sống được một trăm mười chín năm, sanh con trai con gái.

26 Còn Tha-rê được bảy mươi tuổi, sanh Áp-ram, Na-cô và Ha-ran.

   Điều thú vị để quan sát trong ký thuật này là có sự suy giảm dần dần về tuổi thọ của con cháu Sem. Bản thân Sem sẽ sống đến 600 năm, nhưng đến thời Áp-ram tuổi thọ điển hình khi qua đời là khoảng 200 năm. Cũng đáng chú ý là việc con đầu lòng được sinh ra sớm hơn rất nhiều so với trước đây. Ngoại trừ Sem và Áp-ram, hầu hết những người đàn ông trong dòng dõi này đều ở độ tuổi ba mươi khi sinh con đầu lòng.
 Kết quả tổng hợp của tuổi thọ cao trước đây và tuổi thọ đang giảm dần hiện tại là có rất ít mắt xích trong chuỗi từ A-đam đến Áp-ram. A-đam sống thậm chí qua cả lúc Mê-tu-sê-la sinh ra, và Mê-tu-sê-la vẫn còn sống khi Sem được sinh ra. Giả định rằng Áp-ram không phải là con đầu lòng của Tha-rê mà như các phần Kinh Thánh khác dường như chỉ ra, được sinh ra khi Tha-rê được 130 tuổi, Sem sẽ qua đời chỉ 25 năm trước Áp-ram. Vì vậy, mối liên hệ giữa A-đam và Áp-ram trong 2000 năm đầu tiên từ khi sáng tạo thật sự rất gần gũi.
Ký thuật sách Sáng Thế Ký tạm dừng ngắn tại điểm này để đưa ra một bản tường thuật đặc biệt về gia đình Tha-rê. Trong bản tường thuật có giới thiệu về cháu trai của Tha-rê là Lót, người sẽ trở thành một nhân vật trung tâm trong các sự kiện tiếp theo. Cũng quan trọng không kém là việc vợ của Áp-ram là Sa-rai vẫn chưa sinh được con. Giữa một nền văn hóa mà vai trò của người phụ nữ trong việc sinh con, đặc biệt là con trai, là vô cùng quan trọng, sự son sẻ của Sa-rai sẽ mang ý nghĩa ngày càng lớn.
Điều quan trọng tại thời điểm này là ghi chép về cuộc hành trình của Tha-rê từ U-rơ của người Canh-đê, nằm ở đâu đó phía nam hạ lưu sông Ơ-phơ-rát, đến thành phố Cha-ran, cách khoảng 600 dặm về phía bắc. Cùng với Áp-ram, Sa-rai và Lót, Tha-rê khởi hành từ U-rơ hướng về đất Ca-na-an theo con đường Vùng Trăng Khuyết Phì Nhiêu, tránh Sa Mạc Ả-rập. Tại sao Tha-rê rời U-rơ là vấn đề gây nhiều suy đoán trong ký thuật sách Sáng Thế Ký. Kinh Thánh sau này cung cấp câu trả lời đầy đủ hơn khi ghi lại rằng Áp-ram, và có lẽ cả Tha-rê, được Đức Chúa Trời chỉ dẫn rời khỏi U-rơ đến một vùng đất mà Đức Chúa Trời sẽ chỉ cho họ. Do đó bản tường thuật về Tha-rê và cuộc hành trình của ông đến Cha-ran là quan trọng vì nó đặt nền móng cho một cuộc hành trình còn quan trọng hơn của Áp-ram trong việc hoàn thành mục đích mà Đức Chúa Trời đã định.
11 27 Đây là dòng-dõi của Tha-rê: Tha-rê sanh Áp-ram, Na-cô và Ha-ran; Ha-ran sanh Lót. 28 Ha-ran qua đời tại quê-hương mình, tức là U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, khi cha người là Tha-rê hãy còn sống. 29 Áp-ram và Na-cô cưới vợ; vợ Áp-ram tên là Sa-rai, còn vợ Na-cô tên là Minh-ca; Minh-ca và Dích-ca tức là con gái của Ha-ran. 30 Vả, Sa-rai son-sẻ, nên người không có con.

31 Tha-rê dẫn Áp-ram, con trai mình, Lót, con trai Ha-ran, cháu mình, và Sa-rai, vợ Áp-ram, tức dâu mình, đồng ra khỏi U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, đặng qua xứ Ca-na-an. Khi đến Cha-ran thì lập gia-cư tại đó.

32 Tha-rê hưởng-thọ được hai trăm năm tuổi, rồi qua đời tại Cha-ran.

Gióp, Người Công Chính Chịu Khổ 

   Mặc dù không có tham chiếu trong Kinh Thánh về Gióp trong thời kỳ này, nhưng có bằng chứng thuyết phục để tin rằng một nhân vật lịch sử quan trọng tên Gióp nên được kể vào số những người cổ đại. Nhà ông ở trong vùng đất Út-xơ, có lẽ là ở sa mạc Ả-rập phía bắc trong lãnh thổ sau này được biết đến là Ê-đôm hay I-đu-mê. Gióp được ban phước cách đặc biệt với sự thịnh vượng và ông rất yêu thương gia đình mình. Trên hết mọi sự, Gióp là một người công chính, được kính trọng giữa những người đồng trang lứa và ngay cả những người phục vụ ông. Tuy nhiên, tai họa ập đến khi tất cả đàn gia súc, bầy chiên và của cải của ông bị lấy đi qua một loạt nghịch cảnh. Tệ hơn nữa, tất cả con cái ông đều bị giết chết, và bản thân ông bị mắc một căn bệnh khủng khiếp, đau đớn. Mặc dù ông thắc mắc tại sao những tai họa như vậy lại xảy đến với mình, Gióp vẫn giữ vững đức tin nơi Đức Chúa Trời. Kết quả là của cải của ông được khôi phục gấp đôi giá trị ban đầu, có thêm nhiều con cái được sinh ra, và ông qua đời như một người hạnh phúc.
   Câu chuyện về đức tin mạnh mẽ của ông, và cuộc đấu tranh rõ ràng thành công của ông với lý do cho sự đau khổ của mình, sẽ được truyền lại qua nhiều thế hệ sau. Vài thế kỷ sau, vào thời điểm cả một dân tộc đang vật lộn với vấn đề đau khổ, cuộc đời của Gióp sẽ trở thành nền tảng cho một kiệt tác văn học bàn về sự đau khổ và nguyên nhân của nó. Con người khiêm nhường này không biết rằng nghịch cảnh rất cá nhân của ông sẽ là nguồn an ủi cho vô số người đồng cảnh ngộ trong nhiều thế kỷ sau. Riêng điều đó có thể có liên quan đến lý do tại sao ông được kêu gọi để trải qua những nghịch cảnh như vậy. Sách Gióp sẽ được trình bày sau này vào thời điểm nó được viết ra.

< Lui    Trang Lịch     Tới >