Với đền tạm giờ đã được xây dựng, và các thầy tế lễ sẵn sàng phục vụ tại các bàn thờ của nó, dân Y-sơ-ra-ên sắp bắt đầu một giai đoạn mới trong lịch sử của quốc gia trẻ tuổi của họ. Họ sẽ bắt đầu hoạt động như một quốc gia dưới mối quan hệ giao ước, với hầu như mọi hành động hàng ngày bị ảnh hưởng, nếu không được quy định trực tiếp, bởi luật pháp. Trong suốt bốn thập niên tiếp theo, Đức Chúa Trời sẽ ban cho Môi-se hàng chục luật lệ—các luật ảnh hưởng đến các nhiệm vụ tôn giáo và nghi lễ của họ; các luật điều chỉnh chế độ ăn uống và vệ sinh; các luật về sự cung hiến và biểu tượng tôn giáo; luật dân sự và các luật ảnh hưởng đến các nhà lãnh đạo chính trị, quân đội, và hệ thống tòa án; luật hình sự và các tội phạm chống lại tôn giáo, xã hội, và đạo đức; và nhiều luật về gia đình và tài sản.
Nhiều luật pháp trong bộ luật của Y-sơ-ra-ên được ghi lại trong các sách Xuất Ê-díp-tô, Lê-vi Ký, Dân Số Ký, và Phục Truyền Luật Lệ Ký. Thường thì các luật giống nhau được lặp lại trong các dịp khác nhau và trong các bối cảnh khác nhau. Đôi khi một luật sẽ được mở rộng thêm hoặc được giải thích đầy đủ hơn. Để dự đoán việc dân Y-sơ-ra-ên trở nên ít du mục và định cư hơn, các luật sẽ phản ánh một cách thích hợp những hoàn cảnh đang thay đổi. Trong một nỗ lực để tránh sự trùng lặp không cần thiết, và để có được một cái nhìn tổng quan dễ hiểu hơn về các luật pháp của Y-sơ-ra-ên, tất cả các luật khác nhau sẽ được tập hợp lại với nhau trong một tập hợp tại một điểm sau trong tập sách này, trong bối cảnh của các sự kiện sẽ diễn ra khoảng 40 năm sau. Do đó, sách Lê-vi Ký, trong đó tiếp nối nơi mà sách Xuất Ê-díp-tô kết thúc, sẽ phần lớn được để dành cho việc đưa vào sau này. Đủ để nói tại thời điểm này rằng, như tên gọi, sách Lê-vi Ký chủ yếu liên quan đến người Lê-vi và các nhiệm vụ thầy tế lễ của họ. Tuy nhiên, sự thật là sách Lê-vi Ký cũng chứa rất nhiều luật lệ không hề ngạc nhiên khi xét đến chủ đề của nó: “…vì thế hãy nên thánh, bởi vì Ta là thánh.”
Sách Dân Số Ký ghi lại ngắn gọn rằng ở đây trong đồng vắng gần Si-na-i, dân Y-sơ-ra-ên cử hành lễ Vượt Qua đầu tiên của họ kể từ lễ Vượt Qua thực sự về sự chết đã diễn ra một năm trước đó ở Ai Cập. Đây phải là thời điểm của những cảm xúc lẫn lộn—niềm vui khi đã được giải thoát khỏi ách nô lệ của họ, và sự phấn khích khi đã trở thành một quốc gia độc lập, nhưng vẫn không chắc chắn về những gì tương lai dành cho họ.
Ngay cả trong lễ kỷ niệm đầu tiên này là một dấu hiệu cho thấy dân Y-sơ-ra-ên đã lo lắng về luật pháp của Đức Chúa Trời và cách Ngài có thể giải thích họ dưới ánh sáng của các hoàn cảnh đặc biệt. Ở đây họ biết rằng, cùng với sự nghiêm ngặt trong các luật pháp của Ngài, Đức Chúa Trời cũng đã cung cấp các biện pháp ân điển.
Giữ lễ Vượt-qua tại đồng vắng Si-na-i
9 1 Tháng giêng năm thứ hai, sau khi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se trong đồng vắng Si-na-i rằng: 2 Dân Y-sơ-ra-ên phải giữ lễ Vượt-qua theo kỳ nhứt định. 3 Các ngươi phải giữ lễ đó theo kỳ nhứt-định, tức là ngày mười bốn tháng nầy, vào buổi chiều tối; các ngươi phải làm theo hết thảy lệ-định và luật-pháp về lễ đó.
4 Vậy, Môi-se nói cùng dân Y-sơ-ra-ên để họ giữ lễ Vượt-qua. 5 Dân Y-sơ-ra-ên giữ lễ Vượt-qua trong tuần tháng giêng, ngày mười bốn, vào buổi chiều-tối, tại đồng vắng Si-na-i, làm y mọi đều Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
6 Vả, có mấy người vì cớ xác chết mà bị ô-uế, không được giữ lễ Vượt-qua trong ngày đó, bèn đến trước mặt Môi-se và A-rôn, 7 mà thưa cùng Môi-se rằng: Chúng tôi bị lây ô-uế vì xác chết của loài người; sao tại trong dân Y-sơ-ra-ên chúng tôi phải bị cất phần dâng của-lễ cho Đức Giê-hô-va theo kỳ đã chỉ? 8 Môi-se đáp rằng: Hãy đợi để ta biết đều Đức Giê-hô-va sẽ truyền dạy về các ngươi.
9 Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: 10 Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi một người trong vòng các ngươi hay là trong vòng hậu-đại các ngươi bị ô-uế vì cớ xác chết, hoặc mắc đi xa, thì cũng buộc phải giữ lễ Vượt-qua cho Đức Giê-hô-va. 11 Mấy người đó phải giữ lễ nầy ngày mười bốn tháng hai, vào buổi chiều-tối, ăn bánh không men cùng rau đắng, 12 chớ nên để chi còn dư lại đến sáng mai, và cũng chẳng nên bẻ gãy những xương; phải giữ theo mọi luật-lệ về lễ Vượt-qua vậy.
Việc Kiểm Kê Dân Y-sơ-ra-ên
Một tháng đã trôi qua kể từ khi đền tạm được dựng lên, các luật đầu tiên của Môi-se được ban, và quốc gia Y-sơ-ra-ên thực sự được thiết lập để hoàn thành lời hứa xưa với Áp-ra-ham. Tuy nhiên, một phần khác của giao ước của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham vẫn còn phải được hoàn thành—việc chiếm hữu xứ Ca-na-an, đất hứa. Đức Chúa Trời chưa bao giờ nói rằng đất đai sẽ đơn giản được trao cho dân Y-sơ-ra-ên mà không có cuộc đấu tranh. Ngược lại, Đức Chúa Trời đã nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng họ sẽ phải chiến đấu cho đất đai. Tuy nhiên Đức Chúa Trời cũng đã hứa sẽ ở cùng họ và làm cho họ chiến thắng, miễn là họ giữ đức tin nơi Ngài như Đức Chúa Trời duy nhất chân thật, và vẫn vâng lời các luật pháp của Ngài. Bây giờ, trong sự chuẩn bị cho việc chiếm lấy đất hứa, Đức Chúa Trời ra lệnh kiểm kê dân số.
Dân Y-sơ-ra-ên—ít nhất là những người trong độ tuổi chiến đấu, từ 20 tuổi trở lên. Việc đếm dân không chỉ là một cuộc điều tra dân số hay thậm chí một đợt tuyển quân. Trên thực tế, đây là một sự đăng ký quốc gia mà từ đó người Do Thái trong các thế kỷ sau sẽ truy tìm tổ tiên của họ. Một đặc điểm thú vị của việc đếm dân là con cháu của Giô-sép được tính là hai chi phái riêng biệt thông qua các con trai của ông, Ép-ra-im và Ma-na-se, theo đúng lời của Gia-cốp. Trong một quốc gia có khoảng hai triệu dân, có 603.550 người đàn ông ở độ tuổi có thể chiến đấu. Ngoài việc đếm dân, các chi phái cũng được phân công khu vực đóng trại và được chỉ định thứ tự hành quân.
Đáng chú ý là chi phái Lê-vi không có trong việc đếm số những người chiến đấu. Rõ ràng là quốc gia sẽ chỉ mạnh trong chiến trận chừng nào nó được hiến dâng một cách tôn giáo cho sự phục vụ Đức Chúa Trời, vì vậy người Lê-vi sẽ chịu trách nhiệm duy trì sự phục vụ thiêng liêng của dân sự. Do đó, việc đếm số người Lê-vi sẽ được thực hiện riêng biệt với các chi phái khác và trên hai cơ sở khác nhau—một lần cho tất cả nam giới ít nhất một tháng tuổi (22.000), và một lần nữa cho tất cả nam giới từ 30 đến 50 tuổi những người sẵn sàng phục vụ trong đền tạm (8.580). Các địa điểm đóng trại và các vật dụng cụ thể sẽ được mang theo bởi mỗi gia đình cũng được chỉ định.
Sự sửa-soạn đi ra từ núi Si-na-i
(Từ đoạn 1 : 1 đến đoạn 10 : 10)
Tu-bộ dân Y-sơ-ra-ên
1 1 Ngày mồng một tháng hai, năm thứ hai, sau khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se ở trong hội-mạc, tại đồng vắng Si-na-i, mà rằng: 2 Hãy dựng sổ cả hội dân Y-sơ-ra-ên, theo họ-hàng và tông-tộc của họ, cứ đếm từng tên của hết thảy nam-đinh, 3 từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong Y-sơ-ra-ên đi ra trận được; ngươi và A-rôn sẽ kê sổ chúng nó tùy theo đội-ngũ của họ. 4 Trong mỗi chi-phái phải có một người giúp-đỡ các ngươi, tức là người làm tộc-trưởng của chi-phái mình.
5 Đây là tên những người sẽ giúp-đỡ các ngươi: Về chi-phái Ru-bên, Ê-lít-su, con trai của Sê-đêu; 6 về chi-phái Si-mê-ôn, Sê-lu-mi-ên, con trai của Xu-ri-ha-đai; 7 về chi-phái Giu-đa, Na-ha-sôn, con trai của A-mi-na-đáp; 8 về chi-phái Y-sa-ca, Na-tha-na-ên, con trai của Xu-a; 9 về chi-phái Sa-bu-lôn, Ê-li-áp, con trai của Hê-lôn; 10 về con cháu Giô-sép, nghĩa là về chi-phái Ép-ra-im, Ê-li-sa-ma, con trai của A-mi-hút; về chi-phái Ma-na-se, Ga-ma-li-ên, con trai của Phê-đát-su; 11 về chi-phái Bên-gia-min, A-bi-đan, con trai của Ghi-đeo-ni; 12 về chi-phái Đan, A-hi-ê-xe, con trai của A-mi-sa-đai; 13 về chi-phái A-se, Pha-ghi-ên, con trai của Óc-ran; 14 về chi-phái Gát, Ê-li-a-sáp, con trai của Đê-u-ên; 15 về chi-phái Nép-ta-li, A-hi-ra, con trai của Ê-nan. 16 Đó là những người được gọi từ trong hội-chúng, vốn là quan-trưởng của các chi-phái tổ-phụ mình, và là quan-tướng quân-đội Y-sơ-ra-ên.
17 Vậy, Môi-se và A-rôn nhận lấy các người ấy mà đã được xướng tên; 18 đến ngày mồng một tháng hai, truyền nhóm cả hội-chúng, cứ kể tên từng người từ hai mươi tuổi sắp lên mà nhập sổ theo họ-hàng và tông-tộc của họ. 19 Vậy, Môi-se kê sổ chúng nó tại đồng vắng Si-na-i, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn.
20 Con-cháu Ru-bên, là trưởng-nam của Y-sơ-ra-ên, dòng-dõi họ tùy theo họ-hàng và tông-tộc mình, cứ kể từng tên của hết thảy nam-đinh từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi-phái Ru-bên đi ra trận được, 21 số là bốn mươi sáu ngàn năm trăm.
22 Con-cháu Si-mê-ôn, dòng-dõi họ tùy theo họ-hàng và tông-tộc mình, cứ kể từng tên của hết thảy nam-đinh từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi-phái Si-mê-ôn đi ra trận được, 23 số là năm mươi chín ngàn ba trăm.
24 Con-cháu Gát, dòng-dõi họ tùy theo họ-hàng và tông-tộc mình, cứ kể từng tên từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi-phái Gát đi ra trận được, 25 số là bốn mươi lăm ngàn sáu trăm năm mươi.
26 Con-cháu Giu-đa, dòng-dõi họ tùy theo họ-hàng và tông-tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi-phái Giu-đa đi ra trận được, 27 số là bảy mươi bốn ngàn sáu trăm.
28 Con-cháu của Y-sa-ca, dòng-dõi họ tùy theo họ-hàng và tông-tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi-phái Y-sa-ca đi ra trận được, 29 số là năm mươi bốn ngàn bốn trăm.
30 Con-cháu của Sa-bu-lôn, dòng-dõi họ tùy theo họ-hàng và tông-tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi-phái Sa-bu-lôn đi ra trận được, 31 số là năm mươi bảy ngàn bốn trăm.
32 Về hậu-tự Giô-sép, là con-cháu Ép-ra-im, dòng-dõi họ tùy theo họ-hàng và tông-tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi-phái Ép-ra-im đi ra trận được, 33 số là bốn mươi ngàn năm trăm.
34 Con-cháu Ma-na-se, dòng-dõi họ tùy theo họ-hàng và tông-tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi-phái Ma-na-se đi ra trận được, 35 số là ba mươi hai ngàn hai trăm.
36 Con-cháu Bên-gia-min, dòng-dõi họ tùy theo họ-hàng và tông-tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi-phái Bên-gia-min đi ra trận được, 37 số là ba mươi lăm ngàn bốn trăm.
38 Con-cháu Đan, dòng-dõi họ tùy theo họ-hàng và tông-tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi-phái Đan đi ra trận được, 39 số là sáu mươi hai ngàn bảy trăm.
40 Con-cháu A-se, dòng-dõi họ tùy theo họ-hàng và tông-tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi-phái A-se đi ra trận được, 41 số là bốn mươi mốt ngàn năm trăm.
42 Con-cháu Nép-ta-li, dòng-dõi họ tùy theo họ-hàng và tông-tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi-phái Nép-ta-li đi ra trận được, 43 số là năm mươi ba ngàn bốn trăm.
44 Đó là những người mà Môi-se, A-rôn, và mười hai quan-trưởng Y-sơ-ra-ên kê sổ; mỗi quan-trưởng kê sổ cho tông-tộc mình. 45 Thế thì, hết thảy những người trong dân Y-sơ-ra-ên đã được nhập sổ tùy theo tông-tộc mình, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong Y-sơ-ra-ên đi ra trận được, 46 số là sáu trăm ba ngàn năm trăm năm mươi.
Chi-phái Lê-vi
47 Nhưng người Lê-vi, theo chi-phái tổ-phụ mình, không kê sổ chung với những chi-phái khác. 48 Vì Đức Giê-hô-va có phán cùng Môi-se rằng: 49 Ngươi chớ kê sổ chi-phái Lê-vi, và cũng đừng dựng bộ họ chung với dân Y-sơ-ra-ên; 50 nhưng hãy cắt phần người Lê-vi coi-sóc đền-tạm chứng-cớ, hết thảy đồ-đạc và các món thuộc về đền-tạm. Ấy là người Lê-vi sẽ chuyên-vận đền-tạm và hết thảy đồ-đạc nó, cùng sẽ làm công-việc về đền-tạm và đóng trại ở chung quanh đền-tạm. 51 Khi nào đền-tạm dời chỗ, thì người Lê-vi sẽ tháo dỡ nó; khi nào đền-tạm dừng lại, thì họ sẽ dựng nó lên; còn người ngoại đến gần sẽ bị xử-tử. 52 Dân Y-sơ-ra-ên mỗi người phải đóng ở trong trại-quân mình, và mỗi trại-quân, từng đội-ngũ, phải đóng gần bên ngọn cờ mình. 53 Nhưng người Lê-vi sẽ đóng trại chung-quanh đền-tạm chứng-cớ, để đừng có sự giận-dữ cùng hội-dân Y-sơ-ra-ên; người Lê-vi sẽ coi-sóc đền-tạm chứng-cớ. 54 Dân Y-sơ-ra-ên làm y như mọi đều Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se vậy.
Thứ-tự về sự đóng trại
2 1 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: 2 Dân Y-sơ-ra-ên mỗi người phải đóng trại gần bên ngọn cờ mình, ở duới bảng-hiệu của tông-tộc mình, đối ngang nhau vây chung-quanh hội-mạc.
3 Trại-quân Giu-đa sẽ đóng tại hướng đông, về phía mặt trời mọc, với ngọn cờ và những đội-ngũ của mình. Quan-trưởng của người Giu-đa là Na-ha-sôn, con trai của A-mi-na-đáp; 4 và quân-đội người, cứ theo kê sổ, cọng bảy mươi bốn ngàn sáu trăm người. 5 Chi-phái Y-sa-ca phải đóng trại bên Giu-đa; quan-trưởng của người Y-sa-ca là Na-tha-na-ên, con trai Xu-a; 6 và quân-đội người, cứ theo kê sổ, cọng năm mươi bốn ngàn bốn trăm người. 7 Kế đến chi-phái Sa-bu-lôn; quan-trưởng của người Sa-bu-lôn là Ê-li-áp, con trai của Hê-lôn, 8 và quân-đội người, cứ theo kê sổ, cọng năm mươi bảy ngàn bốn trăm người. 9 Vậy, các người đã kê sổ theo trại-quân Giu-đa, từng đội-ngũ, cọng một trăm tám mươi sáu ngàn bốn trăm người. Họ phải đi tiên-phong.
10 Ngọn cờ của trại-quân Ru-bên và những đội-ngũ mình, phải đóng về hướng nam. Quan-trưởng của người Ru-bên là Ê-li-su, con trai của Sê-đêu; 11 và quân-đội người, cứ theo kê sổ, cọng bốn mươi sáu ngàn năm trăm người. 12 Chi-phái Si-mê-ôn phải đóng trại bên Ru-bên; quan-trưởng của người Si-mê-ôn là Sê-lu-mi-ên, con trai của Xu-ri-ha-đai; 13 và quân-đội người, cứ theo kê sổ, cọng năm mươi chín ngàn ba trăm người. 14 Kế đến chi-phái Gát; quan-trưởng của người Gát là Ê-li-a-sáp, con trai của Rê-u-ên; 15 và quân-đội người, cứ theo kê sổ, cọng bốn mươi lăm ngàn sáu trăm năm mươi người. 16 Vậy, các người đã kê sổ theo trại-quân Ru-bên, từng đội-ngũ, cọng một trăm năm mươi mốt ngàn bốn trăm năm mươi người. Họ phải đi thứ nhì.
17 Sau ấy, hội-mạc sẽ đi với trại-quân Lê-vi, ở giữa các trại-quân khác; trại-quân Lê-vi sẽ đi theo thứ-tự như đã đóng, mỗi người theo hàng-ngũ và theo ngọn cờ mình.
18 Ngọn cờ của trại-quân Ép-ra-im và những quân-đội người phải đóng về hướng tây; quan-trưởng của người Ép-ra-im là Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút; 19 và quân-đội người, cứ theo kê sổ, cọng bốn mươi ngàn năm trăm người. 20 Chi-phái Ma-na-se phải đóng trại bên Ép-ra-im; quan-trưởng của người Ma-na-se là Ga-ma-li-ên, con trai của Phê-đát-su; 21 và quân-đội người, cứ theo kê sổ, cọng ba mươi hai ngàn hai trăm người. 22 Kế đến chi-phái Bên-gia-min; quan-trưởng của người Bên-gia-min là A-bi-đan, con trai của Ghi-đeo-ni; 23 và quân-đội người, cứ theo kê sổ, cọng ba mươi lăm ngàn bốn trăm người. 24 Vậy, các người đã kê sổ theo trại-quân Ép-ra-im, từng đội-ngũ, cọng một trăm tám ngàn một trăm người. Họ phải đi thứ ba.
25 Ngọn cờ của trại-quân Đan và những quân-đội họ phải đóng về hướng bắc. Quan-trưởng của người Đan là A-hi-ê-xe, con trai của A-mi-sa-đai; 26 và quân-đội người, cứ theo kê sổ, cọng sáu mươi hai ngàn bảy trăm người. 27 Chi-phái A-se phải đóng trại bên Đan; quan-trưởng của người A-se là Pha-ghi-ên, con trai của Óc-ran; 28 và quân-đội người, cứ theo kê sổ, cọng bốn mươi mốt ngàn năm trăm người. 29 Kế đến chi-phái Nép-ta-li; quan-trưởng của người Nép-ta-li là A-hi-ra, con trai của Ê-nan; 30 và quân-đội người, cứ theo kê sổ, cọng năm mươi ba ngàn bốn trăm người. 31 Vậy, các người đã kê sổ theo trại-quân Đan, cọng một trăm năm mươi bảy ngàn sáu trăm người. Họ theo ngọn cờ mình phải đi hậu-binh.
32 Đó là những người trong dân Y-sơ-ra-ên mà người ta tu-bộ tùy theo tông-tộc mình. Trong các trại-quân hết thảy người đã kê sổ từng đội-ngũ là sáu trăm ba ngàn năm trăm năm mươi người. 33 Nhưng người Lê-vi không nhập sổ chung với dân Y-sơ-ra-ên, tùy theo mạng của Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. 34 Dân Y-sơ-ra-ên y theo mọi đều Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se, bèn đóng trại tùy theo ngọn cờ mình, và mỗi người ra đi tùy theo họ-hàng và tông-tộc mình.