Ngày 02 tháng Giêng

< Lui    Trang Lịch     Tới >

Đọc Sáng Thế ký 4:1 - 5:32

Ba Con Trai Đầu Tiên của A-đam và Ê-va

Trong một chuỗi liên tiếp các khởi đầu, sách Sáng Thế Ký ghi lại khởi đầu của gia đình đầu tiên. A-đam và Ê-va sinh hai con trai, được đặt tên là Ca-in và A-bên, và sau đó là một đứa thứ ba tên là Sết. Văn bản sau đó cho biết rằng trong khoảng thời gian nhiều năm, gia đình này sẽ có nhiều con trai và con gái. Vì không có dấu hiệu nào về con người nào khác được tạo dựng, rất có thể là những anh em trai chị em gái đầu tiên này đã kết hôn với nhau, mặc dù có cảm giác không thích hợp mà sẽ được cảm nhận ở các thế hệ sau này.

Một “điều đầu tiên” khác là ghi chép trong Sáng Thế Ký về sự thờ phượng chính thức đầu tiên của nhân loại với Đức Chúa Trời. Cả Ca-in và A-bên đều dâng của lễ cho Đức Chúa Trời bằng cách dâng hoa trái từ công việc cá nhân của họ. Là một người nông dân, Ca-in đem một phần hoa màu của mình, trong khi A-bên, một người chăn chiên, dâng một số con tốt nhất trong bầy của mình cho Đức Chúa Trời. Mặc dù văn bản không nói rõ điều gì đã thúc đẩy phản ứng của Đức Chúa Trời, nhưng rõ ràng là Đức Chúa Trời không hài lòng với của lễ của Ca-in. Liệu điều này là do Đức Chúa Trời đã đặc biệt ra lệnh cho các anh em phải dâng của lễ động vật, hay có lẽ vì bản tính của Ca-in đã được Đức Chúa Trời biết là ác, thì không rõ ràng. Dù sao đi nữa, lòng kiêu hãnh của Ca-in bị tổn thương và sự giận dữ của anh ta đối với A-bên lớn đến mức trong một hành động có chủ ý trước, Ca-in đã giết A-bên. Vụ giết người sau đó càng trở nên nghiêm trọng hơn khi Ca-in nói dối Đức Chúa Trời về nơi ở của A-bên.

Mặc dù Đức Chúa Trời trừng phạt Ca-in vì hành vi sai trái của anh ta, văn bản cho thấy một số hiểu biết thú vị về bản tính của Đức Chúa Trời bằng cách chỉ ra rằng, bất chấp tội lỗi lớn của Ca-in, Đức Chúa Trời vẫn tỏ lòng thương xót với anh ta. Đây không phải là một hành động ân điển duy nhất. Lòng thương xót của Đức Chúa Trời sẽ được thấy hết lần này đến lần khác. Thật không may, Ca-in dường như không đáp ứng tích cực với lòng thương xót của Đức Chúa Trời, ít nhất là nếu dòng dõi của anh ta phản ánh bản tính tiếp diễn của Ca-in. Ngược lại, khi Sết ra đời, có vẻ như Sết mang theo bản tính công chính của A-bên và thấm nhuần sự kính sợ Đức Chúa Trời trong con cái của ông.

Chuyện Ca-in và A-bên

4 1 A-đam ăn-ở với Ê-va, là vợ mình; người thọ-thai sanh Ca-in và nói rằng: Nhờ Đức Giê-hô-va giúp-đỡ, tôi mới sanh được một người. 2 Ê-va lại sanh em Ca-in, là A-bên; A-bên làm nghề chăn chiên, còn Ca-in thì nghề làm ruộng.

3 Vả, cách ít lâu, Ca-in dùng thổ-sản làm của-lễ dâng cho Đức Giê-hô-va. 4 A-bên cũng dâng chiên đầu lòng trong bầy mình cùng mỡ nó. Đức Giê-hô-va đoái xem A-bên và nhận lễ-vật của người; 5 nhưng chẳng đoái đến Ca-in và cũng chẳng nhận lễ-vật của người; cho nên Ca-in giận lắm mà gằm nét mặt. 6 Đức Giê-hô-va phán hỏi Ca-in rằng: Cớ sao ngươi giận, và cớ sao nét mặt ngươi gằm xuống? 7 Nếu ngươi làm lành, há chẳng ngước mặt lên sao? Còn như chẳng làm lành, thì tội-lỗi rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm; nhưng ngươi phải quản-trị nó.

8 Ca-in thuật lại cùng A-bên là em mình. Vả, khi hai người đương ở ngoài đồng, thì Ca-in xông đến A-bên là em mình, và giết đi. 9 Đức Giê-hô-va hỏi Ca-in rằng: A-bên, em ngươi, ở đâu? Thưa rằng: Tôi không biết; tôi là người giữ em tôi sao? 10 Đức Giê-hô-va hỏi: Ngươi đã làm đều chi vậy? Tiếng của máu em ngươi từ dưới đất kêu thấu đến ta. 11 Bây giờ, ngươi sẽ bị đất rủa-sả, là đất đã hả miệng chịu hút máu của em ngươi bởi chính tay ngươi làm đổ ra. 12 Khi ngươi trồng-tỉa, đất chẳng sanh hoa-lợi cho ngươi nữa; ngươi sẽ lưu-lạc và trốn-tránh trên mặt đất. 13 Ca-in thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Sự hình-phạt tôi nặng quá mang không nổi. 14 Nầy, ngày nay, Chúa đã đuổi tôi ra khỏi đất nầy, tôi sẽ lánh mặt Chúa, sẽ đi lưu-lạc trốn-tránh trên đất; rồi, xảy có ai gặp tôi, họ sẽ giết đi. 15 Đức Giê-hô-va phán rằng: Bởi cớ ấy, nếu ai giết Ca-in, thì sẽ bị báo thù bảy lần. Đức Giê-hô-va bèn đánh dấu trên mình Ca-in, hầu cho ai gặp Ca-in thì chẳng giết. 16 Ca-in bèn lui ra khỏi mặt Đức Giê-hô-va, và ở tại xứ Nốt, về phía đông của Ê-đen.

Dòng-dõi Ca-in

17 Đoạn, Ca-in ăn-ở cùng vợ mình, nàng thọ-thai và sanh được Hê-nóc; Ca-in xây một cái thành đặt tên là Hê-nóc, tùy theo tên con trai mình. 18 Rồi, Hê-nóc sanh Y-rát; Y-rát sanh Mê-hu-da-ên; Mê-hu-da-ên sanh Mê-tu-sa-ên; Mê-tu-sa-ên sanh Lê-méc. 19 Lê-méc cưới hai vợ; một người tên là A-đa, một người tên là Si-la. 20 A-đa sanh Gia-banh; Gia-banh là tổ-phụ của các dân ở trại và nuôi bầy súc-vật. 21 Em người là Giu-banh, tổ-phụ của những kẻ đánh đờn và thổi sáo. 22 Còn Si-la cũng sanh Tu-banh-Ca-in, là người rèn đủ thứ khí-giới bén bằng đồng và bằng sắt. Em gái của Tu-banh-Ca-in là Na-a-ma. 23 Lê-méc bèn nói với hai vợ mình rằng:

Hỡi A-đa và Si-la! hãy nghe tiếng ta;
Nầy, vợ Lê-méc hãy lắng tai nghe lời ta:
Ừ! Ta đã giết một người, vì làm thương ta,
Và một người trẻ, vì đánh sưng bầm ta.
24 Nếu Ca-in được bảy lần báo thù,
Lê-méc sẽ được bảy mươi bảy lần báo oán.

Sết ra đời

25 A-đam còn ăn-ở với vợ mình; người sanh được một con trai đặt tên là Sết; vì vợ rằng: Đức Chúa Trời đã cho tôi một con trai khác thế cho A-bên mà đã bị Ca-in giết rồi. 26 Sết cũng sanh được một con trai, đặt tên là Ê-nót. Từ đây, người ta bắt đầu cầu-khẩn danh Đức Giê-hô-va.

Dòng Dõi từ A-đam đến Nô-ê

Phần tiếp theo là một niên đại đơn giản về mười thế hệ từ A-đam qua Sết đến Nô-ê. Tuy nhiên, bản ghi gia đình ngắn gọn này đầy rẫy những điều ngạc nhiên. Một điều là, những người đàn ông được đặt tên đều sống hàng trăm năm và có con cái khi họ từ 65 đến 500 tuổi! Đã có nhiều suy đoán về nguyên nhân của tuổi thọ này. Một số người thậm chí đã bác bỏ tính chính xác lịch sử của bản tường thuật, nói rằng các “năm” chỉ là những khoảng thời gian đại diện, có lẽ ngắn hơn các năm hiện đại. Tuy nhiên, ngôn ngữ gốc không cho phép giải thích như vậy. Để ủng hộ độ tin cậy lịch sử của bản tường thuật, những người khác đã giải thích tuổi thọ bất thường này trên nhiều cơ sở khác nhau, bao gồm tác động của trái Cây Sự Sống trong Vườn Ê-đen; sự bất tử ban đầu của con người chỉ cảm thấy hậu quả nhẹ nhất của tội lỗi ở giai đoạn đầu này trong sự phát triển của con người; hoặc sự vượt trội của thức ăn, bầu không khí, và các điều kiện sinh sống khác trong thời kỳ này. Người ta chỉ có thể suy đoán, nhưng việc thừa nhận một Đấng Sáng Tạo đủ quyền năng để đưa vũ trụ vào sự tồn tại chắc chắn cho phép lựa chọn cho một Đấng Tạo Hóa như vậy cho phép những cuộc sống dài bất thường vì bất kỳ mục đích nào có thể phù hợp với kế hoạch toàn diện của Ngài cho nhân loại. Một số mục đích có thể ngay lập tức trình bày chính nó, bao gồm nhu cầu nhanh chóng làm cho trái đất đông dân và nhu cầu truyền bá các nguyên tắc đạo đức cơ bản trong suốt những khởi đầu của nhân loại.

Việc truyền bá đạo đức trong suốt các thế hệ đầu trở nên dễ dàng hơn do thực tế là A-đam và Sết tiếp tục sống như những người đương thời với con cháu của họ cách nhiều thế hệ. Bằng cách sống 930 năm, chẳng hạn, A-đam vẫn còn sống trong thời của Lê-méc, cha của Nô-ê, về phía cuối thiên niên kỷ đầu tiên kể từ khi sáng tạo. Người ta có thể hầu như thấy A-đam tập hợp các tộc trưởng đầu tiên lại với nhau và kể cho họ nghe lặp đi lặp lại về cách Đức Chúa Trời đã sáng tạo thế giới, cách Ngài đã chỉ dẫn nhân loại sống, và cách Ngài đã tỏ ra cả sự trừng phạt và lòng thương xót khi A-đam và Ê-va, và thậm chí cả Ca-in, đã không vâng lời.

Một điều ngạc nhiên khác là một trong những hậu duệ của A-đam, Ê-nót, không hề chết! Sau 365 năm sống một cuộc đời dường như đặc biệt công chính, Ê-nót được đưa khỏi thế giới theo cách nào đó khác hơn là cái chết. Các bản tường thuật về những tộc trưởng khác mỗi người đều ghi lại năm mà họ chết. Bản tường thuật về Ê-nót chỉ ra rằng “người không còn nữa.” Điều đáng chú ý hơn nữa là việc một người được chuyển đi khỏi cuộc sống này mà không trải qua cái chết là gợi ý thú vị rằng nhân loại là bất tử—rằng thực sự có sự sống ngoài cái chết!

Hoàn toàn có thể là danh sách gia phả này và những danh sách tiếp theo có thể không liệt kê từng thế hệ kế tiếp, và do đó có thể bỏ qua hàng trăm năm của lịch sử nhân loại. Đó có thể là trường hợp, chẳng hạn, nếu “con trai” được sử dụng để chỉ một cháu trai hoặc một hậu duệ còn xa hơn nữa, như đôi khi được thấy trong các ghi chép lịch sử sau này. Nếu đó là trường hợp, thì sẽ có khó khăn lớn trong việc gán các ngày tháng cụ thể cho những sự kiện lớn như sự sáng tạo người đàn ông và người đàn bà đầu tiên, hoặc trận Đại Hồng Thủy sẽ đến trong thời của Nô-ê. Bởi vì không có dấu hiệu nào trái ngược, câu chuyện này tiếp tục với giả định rằng danh sách gia phả liệt kê sự tiến triển từ cha sang con mà không bỏ qua các thế hệ can thiệp, nhưng để vấn đề này như một câu hỏi mở.

Việc xác định niên đại sớm sẽ được hiển thị là S.C. (Sau Sáng Tạo) (của nhân loại), như được tính toán từ thông tin được cung cấp trong ghi chép Sáng Thế Ký, cho đến khi có thời gian tích cực hơn trong kỷ nguyên T.C. (Trước Christ) có thể được sử dụng. Ngay cả khi đó, các ngày tháng được chỉ ra thường chỉ là gần đúng và không nên được coi là không thể nghi ngờ. Các ngày tháng được cung cấp ở những nơi được tin là chính xác một cách hợp lý để hỗ trợ sự hiểu biết của người đọc về bối cảnh lịch sử.

Gia-phổ A-đam, về dòng Sết cho đến dòng Nô-ê

5 1 Đây là sách chép dòng-dõi của A-đam. Ngày mà Đức Chúa Trời dựng nên loài người, thì Ngài làm nên loài người giống như Đức Chúa Trời; 2 Ngài dựng nên người nam cùng người nữ, ban phước cho họ, và trong ngày đã dựng nên, đặt tên là người. 3 Vả, A-đam được một trăm ba mươi tuổi, sanh một con trai giống như hình-tượng mình, đặt tên là Sết. 4 Sau khi A-đam sanh Sết rồi, còn sống được tám trăm năm, sanh con trai con gái. 5 Vậy, A-đam hưởng-thọ được chín trăm ba mươi tuổi, rồi qua đời.

6 Sết được một trăm năm tuổi, sanh Ê-nót. 7 Sau khi Sết sanh Ê-nót rồi, còn sống được tám trăm bảy năm, sanh con trai con gái. 8 Vậy, Sết hưởng-thọ được chín trăm mười hai tuổi, rồi qua đời.

9 Ê-nót được chín mươi tuổi, sanh Kê-nan. 10 Sau khi Ê-nót sanh Kê-nan rồi, còn sống được tám trăm mười lăm năm, sanh con trai con gái. 11 Vậy, Ê-nót hưởng-thọ được chín trăm năm tuổi, rồi qua đời.

12 Kê-nan được bảy mươi tuổi, sanh Ma-ha-la-le. 13 Sau khi Kê-nan sanh Ma-ha-la-le rồi, còn sống được tám trăm bốn mươi năm, sanh con trai con gái. 14 Vậy, Kê-nan hưởng-thọ được chín trăm mười tuổi, rồi qua đời.

15 Ma-ha-la-le được sáu mươi lăm tuổi, sanh Giê-rệt. 16 Sau khi Ma-ha-la-le sanh Giê-rệt, còn sống được tám trăm ba mươi năm, sanh con trai con gái. 17 Vậy, Ma-ha-la-le hưởng-thọ được tám trăm chín mươi lăm tuổi, rồi qua đời.

18 Giê-rệt được một trăm sáu mươi hai tuổi, sanh Hê-nóc. 19 Sau khi Giê-rệt sanh Hê-nóc rồi, còn sống được tám trăm năm, sanh con trai con gái. 20 Vậy, Giê-rệt hưởng-thọ được chín trăm sáu mươi hai tuổi, rồi qua đời. 21 Hê-nóc được sáu mươi lăm tuổi, sanh Mê-tu-sê-la. 22 Sau khi Hê-nóc sanh Mê-tu-sê-la rồi, đồng đi cùng Đức Chúa Trời trong ba trăm năm, sanh con trai con gái. 23 Vậy, Hê-nóc hưởng-thọ được ba trăm sáu mươi lăm tuổi. 24 Hê-nóc đồng đi cùng Đức Chúa Trời, rồi mất biệt, bởi vì Đức Chúa Trời tiếp người đi.

25 Mê-tu-sê-la được một trăm tám mươi bảy tuổi, sanh Lê-méc. 26 Sau khi Mê-tu-sê-la sanh Lê-méc rồi, còn sống được bảy trăm tám mươi hai năm, sanh con trai con gái. 27 Vậy, Mê-tu-sê-la hưởng-thọ được chín trăm sáu mươi chín tuổi, rồi qua đời.

28 Lê-méc được một trăm tám mươi hai tuổi, sanh một trai, 29 đặt tên là Nô-ê, mà nói rằng: Đứa nầy sẽ an-ủy lòng ta về công-việc và về sự nhọc-nhằn mà đất bắt tay ta phải làm, là đất Đức Giê-hô-va đã rủa-sả. 30 Sau khi Lê-méc sanh Nô-ê rồi, còn sống được năm trăm chín mươi lăm năm, sanh con trai con gái. 31 Vậy, Lê-méc hưởng-thọ được bảy trăm bảy mươi bảy tuổi, rồi qua đời.

32 Còn Nô-ê, khi đến năm trăm tuổi, sanh Sem, Cham và Gia-phết.

< Lui    Trang Lịch     Tới >