Cơn Thịnh Nộ của Đức Chúa Trời Chống lại Sự Dữ
Cựu Ước đầy những câu chuyện về sự Đức Chúa Trời đối phó với dân Y-sơ-ra-ên, và đặc biệt là những minh chứng về quyền năng của Ngài đối với sự dữ. Có sự tương đồng rõ rệt giữa các tiếng kèn sắp được thổi và mười tai họa giáng trên Ai Cập. Mưa đá và lửa, nước biến thành máu, thời kỳ tối tăm, và sự xuất hiện của châu chấu đều dường như hoàn thành sự tương đồng này. Chiếc kèn thứ sáu sẽ mang đến cái chết giữa nhân loại, giống như trong lễ Vượt Qua, khi sự chết đến với con đầu lòng của mỗi gia đình Ai Cập.
(Khải huyền) 8 7 Vị thứ nhứt thổi loa, thì có mưa đá và lửa pha với huyết bị quăng xuống đất. Một phần ba đất bị cháy, một phần ba loài cây bị cháy, và mọi giống cỏ xanh đều bị cháy.
8 Vị thiên-sứ thứ nhì thổi loa; bèn có một khối tựa như hòn núi lớn toàn bằng lửa bị ném xuống biển. Một phần ba biển biến ra huyết, 9 một phần ba sanh-vật trong biển chết hết, và một phần ba tàu-bè cũng bị hủy hết.
10 Vị thiên-sứ thứ ba thổi loa, thì một ngôi sao lớn ở trên trời rơi xuống, cháy có ngọn như một bó đuốc; ngôi sao ấy rơi vào một phần ba các sông lớn và các suối nước. 11 Tên ngôi sao đó là Ngải-cứu, một phần ba nước biến ra như mùi ngải-cứu, và làm chết mất nhiều người ta, vì đã biến thành ra đắng.
12 Vị thiên-sứ thứ tư thổi loa, thì một phần ba mặt trời bị hại, một phần ba mặt trăng và một phần ba các ngôi sao cũng vậy, hầu cho một phần ba các vì sáng ấy đều bị tối-tăm, và hầu cho ban ngày mất một phần ba sáng, và ban đêm cũng vậy.
13 Bấy giờ tôi nhìn xem, nghe chim phụng-hoàng bay giữa trời, kêu tiếng lớn rằng: Khốn thay! Khốn thay! Khốn thay cho những dân-sự trên đất, vì cớ tiếng loa mà ba vị thiên-sứ khác còn phải thổi nữa.
Thiên-sứ thứ năm thổi loa
9 1 Vị thiên-sứ thứ năm thổi loa, thì tôi thấy một ngôi sao từ trời rơi xuống đất, và được ban cho chìa-khóa của vực sâu không đáy. 2 Ngôi sao ấy mở vực sâu không đáy ra, có một luồng khói dưới vực bay lên, như khói của lò lửa lớn; mặt trời và không-khí đều bị tối-tăm bởi luồng khói của vực. 3 Từ luồng khói ấy, có những châu-chấu bay ra rải trên mặt đất; và có kẻ ban cho chúng nó quyền giống như bọ-cạp ở đất vậy. 4 Có lời truyền cho chúng nó chớ làm hại loài cỏ ở đất, thứ xanh và cây-cối nào, nhưng chỉ làm hại những người không có ấn Đức Chúa Trời ở trên trán. 5 Lại cho chúng nó phép, không phải là giết, nhưng là làm khổ những người đó trong năm tháng, và sự làm khổ ấy giống như sự làm khổ khi bọ-cạp cắn người ta. 6 Trong những ngày đó, người ta sẽ tìm sự chết, mà không tìm được; họ sẽ ước-ao chết đi mà sự chết tránh xa.
7 Những châu-chấu đó giống như những ngựa sắm sẵn để đem ra chiến-trận: trên đầu nó có như mão triều-thiên tợ-hồ bằng vàng, và mặt nó như mặt người ta; 8 nó có tóc giống tóc đờn-bà, và răng nó như răng sư-tử. 9 Nó có giáp như giáp bằng sắt; và tiếng cánh nó như tiếng của nhiều xe có nhiều ngựa kéo chạy ra nơi chiến-trường. 10 Đuôi nó có nọc, như bọ-cạp, ấy bởi trong những đuôi đó mà chúng nó có quyền hại người ta trong năm tháng. 11 Nó có vua đứng đầu, là sứ-giả của vực sâu, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là A-ba-đôn, tiếng Gờ-réc là A-bô-ly-ôn.
12 Nạn thứ nhứt đã qua; nay còn hai nạn nữa đến sau nó.
Thiên-sứ thứ sáu thổi loa
13 Vị thiên-sứ thứ sáu thổi loa, thì tôi nghe có tiếng ra từ bốn góc bàn-thờ bằng vàng đặt trước mặt Đức Chúa Trời. 14 Tiếng ấy nói cùng vị thiên-sứ thứ sáu đương cầm loa rằng: Hãy cổi cho bốn vị thiên-sứ bị trói trên bờ sông cái Ơ-phơ-rát. 15 Bốn vị thiên-sứ bèn được cổi trói, đã chực sẵn đến giờ, ngày, tháng, và năm ấy, hầu cho tiêu-diệt một phần ba loài người.
16 Số binh kỵ-mã của đạo quân là hai trăm triệu; số đó tôi đã nghe. 17 Kìa trong sự hiện-thấy, tôi thấy những ngựa và kẻ cỡi ra làm sao: những kẻ ấy đều mặc giáp màu lửa, mầu tía, mầu lưu-hoàng; đầu ngựa giống như đầu sư-tử, và miệng nó có phun lửa, khói và diêm-sanh. 18 Một phần ba loài người bị giết vì ba tai-nạn đó, là lửa, khói, và diêm-sanh ra từ miệng ngựa. 19 Vì quyền-phép của những ngựa ấy ở nơi miệng và đuôi nó; những đuôi ấy giống như con rắn, và có đầu, nhờ đó nó làm hại người.
20 Còn những người sót lại, chưa bị các tai-nạn đó giết đi, vẫn không ăn-năn những công-việc bởi tay chúng nó làm, cứ thờ-lạy ma-quỉ cùng thần-tượng bằng vàng, bạc, đồng, đá, và gỗ, là những tượng không thấy, không nghe, không đi được. 21 Chúng nó cũng không ăn-năn những tội giết người, tà-thuật, gian-dâm, trộm-cướp của mình nữa.
Giăng nuốt sách của thiên-sứ cho
10 1 Đoạn, tôi lại thấy một vị thiên-sứ khác sức mạnh lắm, ở từ trời xuống, có đám mây bao-bọc lấy. Trên đầu người có mống; mặt người giống như mặt trời và chơn như trụ lửa. 2 Người cầm nơi tay một quyển sách nhỏ mở ra: người để chơn hữu mình trên biển, chơn tả mình trên đất, 3 và kêu lên một tiếng lớn, như tiếng sư-tử rống; khi kêu tiếng đó rồi thì bảy tiếng sấm rền lên. 4 Lại khi bảy tiếng sấm rền lên rồi, tôi có ý chép lấy, nhưng tôi nghe một tiếng ở từ trời đến phán rằng: Hãy đóng ấn những đều bảy tiếng sấm đã nói, và đừng chép làm chi.
5 Bấy giờ vị thiên-sứ mà tôi đã thấy đứng trên biển và trên đất, giơ tay hữu lên trời, 6 chỉ Đấng hằng sống đời đời, là Đấng đã dựng nên trời cùng muôn vật trên trời, dựng nên đất cùng muôn vật dưới đất, dựng nên biển cùng muôn vật trong biển, mà thề rằng không còn có thì-giờ nào nữa; 7 nhưng đến ngày mà vị thiên-sứ thứ bảy cho nghe tiếng mình và thổi loa, thì sự mầu-nhiệm Đức Chúa Trời sẽ nên trọn, như Ngài đã phán cùng các tôi-tớ Ngài, là các đấng tiên-tri.
8 Tiếng mà tôi đã nghe đến từ trời, lại nói cùng tôi và bảo rằng: Hãy đi, lấy quyển sách nhỏ mở ra trong tay vị thiên-sứ đương đứng trên biển và đất. 9 Vậy, tôi đi tới vị thiên-sứ và xin người cho tôi quyển sách nhỏ. Người phán: Ngươi hãy lấy và nuốt đi; nó sẽ đắng trong bụng ngươi, nhưng trong miệng ngươi nó sẽ ngọt như mật. 10 Tôi lấy quyển sách nhỏ khỏi tay vị thiên-sứ và nuốt đi; trong miệng tôi nó ngọt như mật, nhưng khi tôi nuốt rồi, thì đắng ở trong bụng. 11 Có lời phán cùng tôi rằng: Ngươi còn phải nói tiên-tri về nhiều dân, nhiều nước, nhiều tiếng và nhiều vua nữa.
Hai người làm chứng bị giết và được sống lại
11 1 Bấy giờ có người ban cho tôi một cây lau giống như cây gậy, và biểu tôi rằng: Hãy đứng dậy, đo đền-thờ Đức Chúa Trời, bàn-thờ, và những kẻ thờ-lạy tại đó. 2 Còn sân ngoài đền-thờ thì hãy để nó ra ngoài, đừng đo làm chi; vì chỗ đó đã phó cho dân ngoại, họ sẽ giày-đạp thành thánh đủ bốn mươi hai tháng. 3 Ta sẽ cho hai người làm chứng ta mặc áo bao gai đi nói tiên-tri trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày.
4 Hai người làm chứng ấy tức là hai cây ô-li-ve và hai chơn-đèn đứng trước mặt Chúa của thế-gian. 5 Nếu ai muốn làm hại hai người đó, thì có lửa ra từ miệng hai người thiêu-nuốt kẻ thù-nghịch mình: kẻ nào muốn làm hại hai người thì phải bị giết như vậy. 6 Hai người có quyền đóng trời lại, để cho trời không mưa trong những ngày mình nói tiên-tri; hai người lại có quyền biến nước thành huyết và khiến các thứ tai-nạn làm hại trên đất, lúc nào muốn làm cũng được cả.
7 Khi hai người đã làm chứng xong rồi, có con thú dưới vực sâu lên, sẽ chiến-đấu cùng hai người; thú ấy sẽ thắng và giết đi. 8 Thây hai người sẽ còn lại trên đường cái của thành lớn, gọi bóng là Sô-đôm và Ê-díp-tô, tức là nơi mà Chúa hai người cũng đã bị đóng đinh trên thập-tự-giá. 9 Người ta ở các dân-tộc, các chi-phái, các tiếng, các nước sẽ trông thấy thây hai người trong ba ngày rưỡi, và chúng sẽ không cho chôn những thây ấy trong mồ. 10 Các dân-sự trên đất sẽ vui-mừng hớn-hở về hai người, và gởi lễ-vật cho nhau, bởi hai tiên-tri đó đã khuấy-hại dân-sự trên đất.
11 Nhưng, sau ba ngày rưỡi ấy, có sanh-khí từ Đức Chúa Trời đến nhập vào trong hai người: hai người bèn đứng thẳng dậy, và những kẻ đứng xem đều kinh-hãi cả thể. 12 Hai người nghe một tiếng lớn ở từ trên trời đến phán cùng mình rằng: Hãy lên đây! Hai người bèn lên trời trong đám mây và những kẻ thù-nghịch đều trông thấy. 13 Đồng một giờ đó, có cơn động-đất lớn; một phần mười của thành đổ xuống, bảy ngàn người chết trong cơn động-đất ấy, còn những kẻ khác thất-kinh và ngợi-khen Đức Chúa Trời trên trời.
14 « Nạn » thứ nhì qua rồi; nầy « Nạn » thứ ba đến mau-chóng.
Sự Công Chính của Đức Chúa Trời Thấy được trong Sự Đến của Christ
Với tiếng kèn thứ bảy được thổi, đến sự loan báo về vương quốc của Đức Chúa Trời qua Christ. Đây là tin tốt lành từ các nhà viết Tin Lành – rằng Đức Chúa Giê-xu, Lời đã trở nên xác thịt, đã đến thế gian để thiết lập vương quốc của Ngài. Các dấu hiệu của sự đến của Ngài được Giăng thấy là việc mở đền thờ, kèm theo động đất và nhiều biến động trên trời.
Thiên-sứ thứ bảy thổi loa.— Bài ca của hai mươi bốn trưởng-lão
15 Vị thiên-sứ thứ bảy thổi loa, có những tiếng lớn vang ra trên trời rằng:
Từ nay nước của thế-gian thuộc về Chúa chúng ta và Đấng Christ của Ngài, Ngài sẽ trị-vì đời đời.
16 Hai mươi bốn trưởng-lão đương ngồi ở trước mặt Đức Chúa Trời, trên ngai mình, đều cúi mình sấp mặt xuống, thờ-lạy Đức Chúa Trời, 17 mà rằng:
Hỡi Chúa là Đức Chúa Trời Toàn-năng, là Đấng hiện có, trước đã có, chúng tôi cảm-tạ Ngài, vì Ngài đã cầm quyền rất cao trong tay và đã trị-vì. 18 Các dân-tộc vốn giận-dữ, nhưng cơn thạnh-nộ của Ngài đã đến: giờ đã tới, là giờ phán-xét kẻ chết, thưởng cho tôi-tớ Chúa là các đấng tiên-tri, thưởng cho các thánh và các người kính-sợ danh Chúa, thưởng cho kẻ nhỏ cùng kẻ lớn, và hủy-phá những kẻ đã hủy-phá thế-gian.
19 Đền-thờ Đức Chúa Trời bèn mở ra ở trên trời, hòm giao-ước bày ra trong đền-thờ Ngài, rồi có chớp nhoáng, tiếng, sấm-sét, động-đất và mưa đá lớn.
Sự Chống Đối Hội Thánh của Christ
Giăng bây giờ thấy dân sự Đức Chúa Trời như một người đàn bà đội vương miện sao, có con trai là Christ, cai trị muôn dân. Đứng lên chống đối người đàn bà này là Sa-tan, kẻ tiến hành chiến tranh chống lại dân sự Đức Chúa Trời bằng hai cách. Sa-tan lúc đầu được thấy như con rồng, dường như đại diện cho sự áp bức chính trị, và sau đó như con thú từ biển xuất hiện để gây chiến chống lại dân sự Đức Chúa Trời, có thể tượng trưng cho sự bắt bớ tôn giáo.
Người đờn-bà có thai và con rồng
12 1 Đoạn, trên trời hiện ra một dấu lớn: một người đờn-bà có mặt trời bao-bọc, dưới chơn có mặt trăng, và trên đầu có mão triều-thiên bằng mười hai ngôi sao. 2 Người có thai, và kêu-la vì nhọc-nhằn và đau đẻ. 3 Trên trời cũng hiện ra một dấu khác nữa: là một con rồng lớn sắc đỏ, có bảy đầu, mười sừng, và trên đầu có bảy mão triều-thiên. 4 Đuôi kéo một phần ba các ngôi sao trên trời, đem quăng xuống đất; con rồng ấy chực trước người đờn-bà gần đẻ, hầu cho khi đẻ ra thì nuốt con người đi.
5 Người sanh một con trai, con trai ấy sẽ dùng gậy sắt mà cai-trị mọi dân-tộc; đứa trẻ ấy được tiếp lên tới Đức Chúa Trời, và nơi ngôi Ngài. 6 Còn người đờn-bà, thì trốn vào đồng vắng, tại đó người đã có một nơi ở mà Đức Chúa Trời đã sửa-soạn cho, để nuôi mình trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày.
Rồng bị thua các thiên-sứ
7 Bấy giờ có một cuộc chiến-đấu trên trời: Mi-chen và các sứ người tranh-chiến cùng con rồng, rồng cũng cùng các sứ mình tranh-chiến lại; 8 song chúng nó không thắng, và chẳng còn thấy nơi chúng nó ở trên trời nữa. 9 Con rồng lớn đó bị quăng xuống, tức là con rắn xưa, gọi là ma-quỉ và Sa-tan, dỗ-dành cả thiên-hạ; nó đã bị quăng xuống đất, các sứ nó cũng bị quăng xuống với nó.
10 Tôi lại nghe trên trời có tiếng lớn rằng:
Rồng bắt-bớ người đờn-bà và con-cái người
13 Khi rồng thấy mình bị quăng xuống đất, bèn đuổi theo người đờn-bà đã sanh con trai. 14 Nhưng người được ban cho một cặp cánh chim phụng-hoàng, đặng bay về nơi đồng vắng là chỗ ẩn-náu của mình; ở đó được nuôi một thì, các thì, và nửa thì, lánh xa mặt con rắn. 15 Bấy giờ con rắn phun nước ở miệng mình ra như sông theo sau người đờn-bà, hầu cho kéo người xuống sông. 16 Nhưng đất tiếp-cứu người đờn-bà; vì đất hả miệng nuốt sông mà con rồng đã phun ra từ miệng nó. 17 Con rồng giận người đờn-bà, bèn đi tranh-chiến cùng con-cái khác của người, là những kẻ vẫn giữ các điều-răn của Đức Chúa Trời và lời chứng của Đức Chúa Jêsus. 18 Con rồng đứng trên bãi cát của biển.
Con thú thứ nhứt ở biển lên
13 1 Đoạn, tôi thấy ở dưới biển lên một con thú có mười sừng bảy đầu, trên những sừng có mười cái mão triều-thiên, và trên những đầu có danh-hiệu sự phạm-thượng. 2 Con thú tôi thấy đó giống như con beo; chơn nó như chơn gấu, miệng như miệng sư-tử, và con rồng đã lấy sức-mạnh, ngôi, và quyền-phép lớn mà cho nó. 3 Một cái trong các cái đầu nó như bị thương đến chết; nhưng vít thương chết ấy được lành, và cả thế-gian đều lấy làm lạ mà theo con thú đó. 4 Người ta khởi thờ-phượng con rồng, bởi nó đã lấy quyền-phép cho con thú; và họ cũng thờ-phượng chính con thú, mà rằng: Ai sánh được với con thú, ai giao-chiến cùng nó được? 5 Nó được ban cho cái miệng nói những lời kiêu-ngạo phạm-thượng; và nó lại được quyền làm việc trong bốn mươi hai tháng. 6 Vậy, nó mở miệng ra nói những lời phạm đến Đức Chúa Trời, phạm đến danh Ngài, đền-tạm Ngài cùng những kẻ ở trên trời. 7 Nó lại được phép giao-chiến cùng các thánh-đồ và được thắng. Nó cũng được quyền trị mọi chi-phái, mọi dân-tộc, mọi tiếng và mọi nước. 8 Hết thảy những dân-sự trên đất đều thờ-lạy nó, là những kẻ không có tên ghi trong sách sự sống của Chiên Con đã bị giết từ buổi sáng-thế.
9 Ai có tai, hãy nghe! 10 Nếu ai bắt người làm phù-tù, chính mình sẽ bị làm phù-tù; nếu ai giết người bằng gươm, mình phải bị giết bằng gươm. Đây là sự nhịn-nhục và đức-tin của các thánh-đồ.
Con thú thứ nhì ở dưới đất lên
11 Tôi lại thấy từ dưới đất lên một con thú khác, có hai sừng như sừng chiên con, và nói như con rồng. 12 Nó cũng dùng mọi quyền-phép của con thú trước tại trước mặt con thú ấy, và nó bắt thế-gian cùng dân-cư nó phải thờ-lạy con thú trước, là con có vít thương đến chết đã được lành. 13 Nó làm những phép lạ lớn, đến nỗi khiến lửa từ trên trời rơi xuống đất trước mặt người ta. 14 Nó lừa-dối dân-cư trên đất bằng những phép lạ nó đã được phép làm ra trước mặt con thú; và khuyên dân-cư trên đất tạc tượng cho con thú đã bị thương bằng gươm và đã sống lại. 15 Nó cũng được quyền hà hơi sống vào tượng con thú, hầu cho tượng ấy nói được và khiến hết thảy những kẻ nào không thờ-lạy tượng con thú đó bị giết đi. 16 Nó cũng khiến mọi người, nhỏ và lớn, giàu và nghèo, tự-chủ và tôi-mọi, đều chịu ghi dấu hoặc trên tay hữu, hoặc trên trán, 17 hầu cho người nào không có dấu ấy, nghĩa là không có danh con thú hay số của tên nó, thì không thể mua cùng bán được.
18 Đây tỏ ra sự khôn-ngoan: kẻ nào thông-minh, hãy tính số con thú, vì đó là một số người; số nó là sáu trăm sáu mươi sáu.