Lần đầu tiên bị đày từ Giu-đa
Khi Giu-đa co rúm như một đứa trẻ sợ hãi giữa hai kẻ bắt nạt đang đánh nhau, cuộc đối đầu cuối cùng diễn ra tại thành phố Carchemish bên sông Ê-phơ-rát trong khu vực Mê-sô-bô-ta-mi, phía đông Ca-na-an. Trong một trong những trận chiến vĩ đại nhất của thế giới cổ đại, Nê-bu-các-nết-sa II, người vừa kế vị cha mình, đã đánh bại hoàn toàn quân Ai Cập dưới quyền Pha-ra-ôn Nê-cô, đúng như Giê-rê-mi đã tiên tri. Vậy nên vào năm 605 trước Công nguyên, Giu-đa rơi vào tình thế tổn thương nhất từ trước đến nay, và như dự đoán, Nê-bu-các-nết-sa nắm lấy cơ hội để biến Giu-đa thành quốc gia chư hầu. Như các ghi chép lịch sử sau này sẽ cho thấy, nhiều người dân Giu-đa, bao gồm một chàng trai trẻ tên Đa-ni-ên (người sẽ trở thành một tôi tớ vĩ đại của Chúa), giờ đây bị bắt làm tù binh đến Ba-by-lôn cùng với các đồ vật trong đền thờ bị tịch thu.
Nhóm tù binh này chỉ là nhóm đầu tiên trong số nhiều nhóm sẽ theo sau. Các cuộc xâm lược sau này của Ba-by-lôn sẽ khiến nhiều người dân Giu-đa hơn nữa bị đưa đi. Trong một tài liệu tham khảo hơi bí ẩn, tác giả sách Sử ký nói rằng vua Giê-hô-gia-kim cũng bị trói và bắt làm tù binh. Tuy nhiên, Nê-bu-các-nết-sa rõ ràng đã đổi ý, bởi vì rõ ràng là Giê-hô-gia-kim tiếp tục làm vua bù nhìn ở Jerusalem cho đến khi chết, khoảng tám năm sau đó. Điều đáng chú ý trong ghi chép lịch sử là một tham chiếu ngắn gọn về việc Ai Cập không thể giúp đỡ Giu-đa trong thời khủng hoảng, đúng như các tiên tri đã báo trước.
Nê-bu-cát-nết-sa xâm-chiếm nước Giu-đa
(2 Các vua) 24 1 Trong đời Giê-hô-gia-kim trị-vì, Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, xâm lấy xứ. Giê-hô-gia-kim thần-phục người trong ba năm, rồi người đổi ý và phản-nghịch với người.
(2 Sử ký) 36 6 Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đi lên hãm đánh người, xiềng người lại, và dẫn người qua Ba-by-lôn. 7 Nê-bu-cát-nết-sa cũng đoạt lấy đem về Ba-by-lôn những khí-dụng của đền Đức Giê-hô-va, rồi để vào trong miễu người tại Ba-by-lôn.
(2 Các vua) 24 7 Vả, vua Ê-díp-tô không dám ra khỏi xứ mình nữa, bởi vì vua Ba-by-lôn đã chiếm lấy xứ thuộc về vua Ê-díp-tô, từ khe Ê-díp-tô cho đến sông Ơ-phơ-rát.
Giê-rê-mi nói về thời gian bị lưu đày
Với những tù binh đầu tiên đã được đưa đến Ba-by-lôn, Chúa sai lời đến Giê-rê-mi để nói với dân chúng chính xác thời gian bị lưu đày sẽ kéo dài và cho họ biết rằng cuộc tấn công đầu tiên này của Ba-by-lôn không có nghĩa là cuộc tấn công cuối cùng. Tuy nhiên, Chúa nhắc nhở Giu-đa rằng những kẻ áp bức họ sẽ không thoát khỏi sự trừng phạt của chính họ vào cuối thời kỳ lưu đày của Giu-đa. Chén thịnh nộ của Chúa sẽ được đổ ra chống lại tất cả các dân tộc độc ác.
Hình-phạt của Ba-by-lôn và các nước khác sau khi sự làm phu-tù bảy mươi năm
25 1 Nầy là lời phán cùng Giê-rê-mi về cả dân Giu-đa, trong năm thứ tư đời Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua của Giu-đa; ấy là năm thứ nhứt đời Nê-bu-cát-nết-sa, vua nước Ba-by-lôn. 2 Đấng tiên-tri Giê-rê-mi rao-truyền những lời nầy trước mặt dân Giu-đa và hết thảy dân-cư Giê-ru-sa-lem rằng: Từ năm thứ mười ba đời Giô-si-a, con trai A-môn, vua của Giu-đa, cho đến ngày nay có hai mươi ba năm, lời của Đức Giê-hô-và phán cùng tôi. Từ lúc đó, tôi dậy sớm nói cùng các ngươi; nhưng các ngươi chẳng khứng nghe tôi. 4 Đức Giê-hô-va đã sai các đầy-tớ Ngài, là các tiên-tri, đến cùng các ngươi, dậy sớm mà sai đến, nhưng các ngươi không nghe lời, không để tai mà nghe. 5 Các đấng ấy nói rằng: Mỗi người trong các ngươi hãy từ đường dữ mình trở lại; hãy bỏ đều ác của việc làm mình, và ở trong đất mà Đức Giê-hô-va đã ban cho các ngươi và tổ-phụ các ngươi từ xưa cho đến đời đời. 6 Chớ theo các thần khác đặng hầu-việc và thờ-lạy, chớ lấy việc tay mình làm ra mà chọc giận ta nữa, thì ta sẽ không làm hại chi các ngươi. 7 Đức Giê-hô-va phán: Nhưng các ngươi chẳng nghe ta, mà lấy việc làm của tay mình chọc giận ta, và chuốc lấy tai-hại cho mình.
8 Vậy nên, Đức Giê-hô-va vạn-quân phán như vầy: Vì các ngươi đã chẳng nghe lời ta, 9 nầy, ta sẽ sai đòi mọi họ-hàng phương bắc cùng đầy-tớ ta là Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đến nghịch cùng đất này, nghịch cùng dân-cư nó, và các nước ở chung-quanh. Ta sẽ diệt hết chúng nó, làm chúng nó nên sự gở-lạ, chê-cười, và hoang-vu đời đời. Đức Giê-hô-va phán vậy. 10 Vả, ta sẽ làm cho trong vòng chúng nó hết tiếng reo-vui và kêu-mừng, hết tiếng của rể mới và dâu mới, hết tiếng ầm-ầm của cối-xay và ánh sáng của đèn. 11 Cả đất nầy sẽ trở nên hoang-vu gở-lạ, các nước nầy sẽ phục-sự vua Ba-by-lôn trong bảy mươi năm.
12 Đức Giê-hô-va phán: Khi bảy mươi năm ấy sẽ mãn, ta sẽ phạt vua Ba-by-lôn và dân người, vì cớ tội-ác chúng nó. Ta sẽ phạt xứ người Canh-đê và biến thành một nơi hoang-vu đời đời. 13 Phàm lời ta đã phán nghịch cùng đất ấy, tức lời chép trong sách nầy, là lời Giê-rê-mi đã nói tiên-tri nghịch cùng muôn nước, thì sẽ xảy đến cho đất ấy. 14 Vả, sẽ có nhiều nước và vua lớn bắt chính người Canh-đê làm tôi-mọi, và ta sẽ báo chúng nó theo việc làm của chúng, và theo việc bởi tay chúng làm ra.
15 Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán cùng tôi như vầy: Hãy lấy chén rượu của sự giận khỏi tay ta, khá cho các dân mà ta sai ngươi đến đều uống lấy. 16 Chúng nó sẽ uống, sẽ đi xiêu-tó, và điên-cuồng, vì có gươm-dao mà ta sẽ sai đến giữa chúng nó. 17 Vậy tôi lấy chén khỏi tay Đức Giê-hô-va, và khiến cho mọi nước mà Đức Giê-hô-va sai tôi đến đều uống lấy: 18 cho Giê-ru-sa-lem và cho các thành của Giu-đa, cho các vua các quan-trưởng nó, làm cho chúng nó hoang-vu, gở-lạ, bị chê-cười, chịu rủa-sả như ngày nay; 19 cho Pha-ra-ôn, vua nước Ê-díp-tô, cho những đầy-tớ người, cho các quan-trưởng và dân-sự người; 20 cho mọi dân lộn, cho mọi vua xứ Út-xơ, cho mọi vua xứ Phi-li-tin: tức vua của Ách-ca-lôn, của Ga-xa, của Éc-rôn, và những kẻ còn sống sót ở Ách-đốt; 21 cho Ê-đôm, cho Mô-áp, cho con-cái Am-môn; 22 cho các vua Ty-rơ, cho mọi vua ở Si-đôn, cho mọi vua ở cù-lao ngoài biển; 23 cho Đê-đan, cho Thê-ma, cho Bu-xơ, cho những kẻ cạo tóc chung-quanh đầu; 24 cho mọi vua A-ra-bi, cho các vua của các nước thuộc về các giống lộn ở đồng vắng; 25 cho mọi vua của Xim-ri, cho mọi vua của Ê-lam, cho mọi vua của Mê-đi; 26 cho mọi vua phương bắc, ở gần hoặc ở xa, cho vua nầy cùng với vua kia; sau lại, cho mọi nước thế-gian ở trên mặt đất. Vua của Sê-sác cũng sẽ uống chén sau các vua kia.
27 Ngươi khá bảo họ rằng: Đức Giê-hô-va vạn-quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Hãy uống đi, hãy say, mửa, ngã-xuống, đừng dậy nữa, vì cớ gươm-dao mà ta sẽ sai đến giữa các ngươi! 28 Nếu họ không khứng lấy chén ở tay ngươi đặng uống, thì ngươi khá bảo rằng: Đức Giê-hô-va vạn-quân phán như vầy: Chắc các ngươi phải uống! 29 Vả, nầy, ấy là thành kia là thành được xưng bằng danh ta, mà ta bắt đầu xuống tai-vạ; còn các ngươi, há khỏi hình-phạt được cả sao? Không! các ngươi sẽ không khỏi hình-phạt đâu; vì ta sẽ sai gươm-dao đến trên mọi dân-cư trên đất, Đức Giê-hô-va vạn-quân phán vậy.
30 Cho nên ngươi khá lấy mọi lời nầy nói tiên-tri nghịch cùng họ, và bảo rằng: Đức Giê-hô-va quát-tháo từ nơi cao; phát tiếng từ chỗ-ở thánh Ngài; quát-tháo to nghịch cùng chuồng chiên; trổi tiếng kêu như những kẻ đạp trái nho, nghịch cùng hết thảy dân-cư trên đất. 31 Tiếng om-sòm sẽ vang ra đến cùng đất; vì Đức Giê-hô-va tranh-cạnh cùng các nước, phán-xét mọi xác-thịt, phó những kẻ dữ cho gươm-dao, Đức Giê-hô-va phán vậy.
32 Đức Giê-hô-va vạn-quân phán như vầy: Nầy, tai-vạ sẽ từ một dân nầy qua một dân khác; một trận bão lớn dấy lên từ các nơi đầu-cùng đất. 33 Thây của những kẻ mà Đức Giê-hô-va đã giết trong ngày đó, sẽ đầy trên đất từ đầu nầy đến đầu kia; chẳng ai khóc, chẳng thâu liệm, chẳng chôn, sẽ làm phân trên mặt đất!
34 Hỡi những kẻ chăn, hãy than-khóc, cất tiếng than-van! Hỡi những kẻ dẫn bầy chiên, hãy lăn trong tro-bụi! Vì ngày các ngươi bị giết, kỳ các ngươi bị tan-lạc đã đến hạn; các ngươi sẽ ngã xuống như bình quí-giá. 35 Kẻ chăn không bởi đâu trốn-tránh, kẻ dẫn bầy chiên không bởi đâu thoát ra. 36 Kẻ chăn phát tiếng kêu, kẻ dẫn bầy chiên than-khóc; vì Đức Giê-hô-va phá hoang đồng cỏ họ, 37 và những chuồng chiên yên-ổn đã bị bắt phải nín-lặng bởi sự nóng-giận của Đức Giê-hô-va. 38 Ngài như sư-tử đã ra khỏi chỗ kín mình. Đất chúng nó đã trở nên gở-lạ bởi sức-mạnh rất hung đè-nén, và cơn giận rất mãnh-liệt.
Để minh họa thêm nguyên nhân cơn thịnh nộ của Ngài, Chúa kêu gọi chú ý đến dòng tộc Rekabites, những người qua nhiều thế hệ đã tuân theo lệnh của tổ tiên mình để sống cuộc đời khổ hạnh và du mục. Vấn đề là thế này: Nếu có những người sẽ vẫn trung thành qua nhiều thế hệ với lệnh của một người đàn ông, thì càng nên có nhiều người hơn tuân theo các điều răn của Chúa, chính Đấng Tạo Hóa của họ.
Người Rê-cáp trung-thành trái với người Giu-đa không trung-thành
35 1 Về đời Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua Giu-đa, có lời từ nơi Đức Giê-hô-va phán cho Giê-rê-mi rằng: 2 Hãy đến nhà của người Rê-cáp, nói cùng chúng nó; khá đem chúng nó đến nhà Đức Giê-hô-va, vào trong một cái phòng, và cho chúng nó uống rượu.
3 Tôi bèn đem Gia-a-xa-nia, con trai Giê-rê-mi, cháu Ha-bát-si-nia, cùng các anh em người, mọi con trai người, và cả nhà Rê-cáp nữa. 4 Tôi đem họ vào nhà Đức Giê-hô-va, trong phòng của những con trai Ha-nan, con trai Gi-đa-lia, người của Đức Chúa Trời, là phòng gần phòng các quan-trưởng và ở trên phòng Ma-a-sê-gia, con trai Sa-lum, là người canh ngạch cửa. 5 Tôi để những bình đầy rượu và chén trước mặt các con trai nhà người Rê-cáp, và nói với họ rằng: Hãy uống rượu đi!
6 Nhưng họ đáp rằng: Chúng tôi không uống rượu nào; vì tổ chúng tôi là Giô-na-đáp, con trai Rê-cáp, có truyền-dạy chúng tôi rằng: Các ngươi cho đến con cháu các ngươi đời đời chớ khá uống rượu. 7 Các ngươi chớ xây nhà, chớ gieo giống, chớ trồng và chớ có vườn nho; nhưng các ngươi khá ở nhà tạm suốt đời, hầu cho được sống lâu trong đất mà mình kiều-ngụ.
8 Chúng tôi vâng theo tiếng của Giô-na-đáp, con trai Rê-cáp, tổ chúng tôi, trong mọi đều người đã răn-dạy chúng tôi, thì trọn đời chúng tôi, cho đến vợ, con trai, con gái chúng tôi, cũng không uống rượu. 9 Chúng tôi không xây nhà để ở, không có vườn nho, ruộng, và hột giống, 10 nhưng cứ ở trong trại. Chúng tôi đã vâng lời tổ chúng tôi là Giô-na-đáp như vậy, và làm theo mọi đều người đã răn-dạy chúng tôi. 11 Nhưng xảy ra, khi Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đến trong đất nầy, chúng tôi nói cùng nhau rằng: Hãy lên Giê-ru-sa-lem, vì sợ đạo-binh của người Canh-đê và đạo-binh của Sy-ri. Vậy nên chúng tôi đến ở tại Giê-ru-sa-lem.
12 Bấy giờ, có lời của Đức Giê-hô-va phán cho Giê-rê-mi rằng: 13 Đức Giê-hô-va vạn-quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Hãy đi, nói cùng người Giu-đa và dân-cư Giê-ru-sa-lem rằng: Đức Giê-hô-va phán: Các ngươi không chịu dạy, và không nghe lời ta sao? 14 Lời Giô-na-đáp, con trai Rê-cáp, đã răn-dạy con cháu mình rằng không được uống rượu, thì thành sự; chúng nó không uống cho đến ngày nay, vì đã vâng theo mạng-lịnh của tổ mình. Còn ta, đã dậy sớm nói với các ngươi, mà các ngươi không nghe ta. 15 Ta cũng đã sai hết thảy đầy-tớ ta, tức các tiên-tri, đến cùng các ngươi; ta đã dậy sớm sai họ đến đặng nói rằng: Mỗi người trong các ngươi khá trở lại khỏi đường xấu mình; hãy sửa việc làm các ngươi lại, chớ theo sau các thần khác để hầu-việc chúng nó, thì các ngươi sẽ ở trong đất mà ta đã ban cho các ngươi và tổ-phụ các ngươi. Nhưng các ngươi chẳng để tai vào, và chẳng nghe ta. 16 Vì các con trai của Giô-na-đáp, con trai Rê-cáp, đã vâng giữ lời răn-dạy của tổ mình ban cho, còn dân nầy thì chẳng nghe ta; 17 cho nên, Giê-hô-va, Đức Chúa Trời vạn-quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Nầy, ta sẽ giáng cho Giu-đa và hết thảy dân-cư Giê-ru-sa-lem mọi tai-vạ mà ta đã rao cho chúng nó; vì ta nói mà chúng nó không nghe, ta gọi mà chúng nó không trả lời.
18 Đoạn, Giê-rê-mi nói cùng nhà người Rê-cáp rằng: Đức Giê-hô-va vạn-quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Vì các ngươi đã vâng theo mạng-lịnh của tổ mình là Giô-na-đáp, đã giữ mọi lời răn-dạy của người, và làm theo mọi đều người đã truyền cho các ngươi, 19 vì cớ đó, Đức Giê-hô-va vạn-quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Giô-na-đáp, con trai Rê-cáp, sẽ chẳng thiếu một người nam đứng trước mặt ta đời đời.