Ảnh hưởng của việc giảng dạy của Giê-rê-mi:
Rõ ràng là Giê-rê-mi đang trưởng thành cả với tư cách là một người trẻ tuổi và như một tiên tri của Đức Chúa Trời. Ông đã trải qua thử thách của xung đột và đã chiến thắng. Sẽ còn nhiều đối kháng và hy sinh cá nhân hơn nữa, nhưng giờ đây Giê-rê-mi đã có sức mạnh để chịu đựng. Giê-rê-mi sẽ tiếp tục được nghe từ sau khi triều đại của Giô-si-a kết thúc. Tuy nhiên, hiện tại, khung cảnh thay đổi thành một quốc gia đang trên bờ vực của một cuộc hồi sinh tâm linh sâu sắc, dù ngắn ngủi. Có lẽ việc giảng dạy của Giê-rê-mi đã có hiệu quả hơn so với những gì ông nhận ra. (Khi ai đó gieo hạt giống, họ không bao giờ biết khi nào nó sẽ kết quả.)
(2 Sử ký) 34 8 Năm thứ mười tám đời người trị-vì, sau khi đã dọn sạch xứ và đền-thờ rồi, thì người sai Sa-phan, con trai A-sa-lia, Ma-a-xê-gia, quan cai thành, và Giô-a, con trai Giô-a-cha, quan thái-sử, đặng sửa-sang đền của Giê-hô-va Đức Chúa Trời người.
(2 Các vua) 22 3 Năm thứ mười tám đời Giô-si-a, vua sai thơ-ký Sa-phan, con trai A-xa-lia, cháu Mê-su-lam, đến đền Đức Giê-hô-va, mà dặn rằng: 4 Hãy đi lên thầy tế-lễ thượng-phẩm Hinh-kia, đếm bạc đã đem đến trong đền-thờ của Đức Giê-hô-va, tức là bạc mà các người giữ cửa đền-thờ đã thâu lấy nơi dân-sự; 5 đoạn hãy giao bạc ấy cho những kẻ coi-sóc việc đền-thờ của Đức Giê-hô-va, để họ giao lại cho thợ sửa-sang các nơi hư-nứt của đền-thờ, 6 tức thợ mộc, thợ xây-cất, thợ hồ, và dùng mua gỗ và đá đẽo đặng tu-bổ đền lại. 7 Song chớ tính sổ bạc giao nơi tay chúng, vì chúng vốn làm thành-thực.
(2 Sử ký) 34 9 Các người ấy đi đến cùng Hinh-kia, thầy tế-lễ thượng-phẩm, giao cho người tiền bạc đã đem vào đền Đức Chúa Trời, tức tiền bạc mà người Lê-vi, kẻ giữ cửa, đã nhận nơi tay người Ma-na-se, người Ép-ra-im, và nơi những kẻ còn sót lại trong Y-sơ-ra-ên, cùng nhận nơi cả Giu-đa, Bên-gia-min và những dân-cư thành Giê-ru-sa-lem. 10 Chúng giao bạc ấy nơi tay những người coi-sóc công-việc của đền Đức Giê-hô-va; họ phát cho các thợ đặng tu-bổ, sửa-sang đền-thờ: 11 tức giao cho thợ mộc, thợ xây đặng mua đá đẽo, cây gỗ để ráp nối, và làm sườn cho các nhà thuộc về đền mà các vua Giu-đa đã phá-hủy. 12 Các thợ ấy đều làm công-việc cách thành tâm. Kẻ quản-đốc các thợ ấy là Gia-hát và Ô-ba-đia, hai người Lê-vi thuộc về dòng Mê-ra-ri; Xa-cha-ri và Mê-su-lam về dòng Kê-hát, cùng mấy người Lê-vi khác, đánh nhạc-khí giỏi. 13 Chúng cũng quản-đốc kẻ khiêng-gánh, và coi-sóc những người làm đủ mọi thứ công-việc; còn những ký-lục, quan-cai và kẻ canh cửa đều là người Lê-vi.
Tìm lại được sách luật-pháp
(2 Sử ký) 34 14 Khi người ta đem bạc đã đem vào đền Đức Giê-hô-va ra, thì Hinh-kia, thầy tế-lễ, tìm được cuốn sách luật-pháp của Đức Giê-hô-va truyền lại bởi Môi-se.
(2 Các vua) 22 8 Thầy tế-lễ thượng-phẩm Hinh-kia nói với thơ-ký Sa-phan rằng: Tôi đã tìm được quyển Luật-pháp trong đền-thờ Đức Giê-hô-va. Hinh-kia trao quyển sách đó cho Sa-phan, và người đọc nó.
(2 Sử ký) 34 16 Sa-phan đem sách đó cho vua; rồi người cũng tâu với vua rằng: Mọi việc giao nơi tay các tôi-tớ vua thì họ đương làm. 17 Chúng đã lấy bạc tìm được trong đền Đức Giê-hô-va ra, và đã giao nơi tay các đốc-công và những người làm công-việc. 18 Thơ-ký Sa-phan lại tâu với vua rằng: Thầy tế-lễ Hinh-kia có trao cho tôi một cuốn sách. Sa-phan bèn đọc tại trước mặt vua. 19 Xảy khi vua nghe các lời luật-pháp rồi, thì xé áo mình. 20 Vua truyền lịnh cho Hinh-kia, A-hi-cam, con trai của Sa-phan, Áp-đôn, con trai của Mi-ca, Sa-phan, thơ-ký, và A-sa-gia, quan cận thần vua, mà rằng: 21 Hãy vì ta, vì các người Y-sơ-ra-ên và vì người Giu-đa còn sót lại, mà đi cầu-vấn Đức Giê-hô-va về các lời phán của sách nầy đã tìm lại được; vì cơn giận của Đức Giê-hô-va đã giáng trên chúng ta thật lớn thay, bởi các tổ-phụ ta không gìn-giữ lời phán của Đức Giê-hô-va, và chẳng làm theo các đều đã chép trong sách nầy.
Nữ tiên-tri Hun-đa
22 Hinh-kia và các kẻ vua sai đi đến Hun-đa, nữ tiên-tri, vợ của Sa-lum, là người giữ áo-lễ, con trai của Tô-cát, cháu Hát-ra; bà ở tại Giê-ru-sa-lem trong quận thứ nhì; chúng nói với bà theo các lời vua đã phán. 23 Bà bèn nói với chúng rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Hãy nói cùng người đã sai các ngươi đến cùng ta rằng: 24 Đức Giê-hô-va phán như vầy; nầy ta sẽ khiến các tai-vạ giáng trên chỗ nầy và trên dân ở chỗ nầy, tức là các sự rủa-sả chép trong sách mà người ta đã đọc trước mặt vua Giu-đa. 25 Bởi vì chúng đã lìa-bỏ ta, xông hương cho các tà-thần, lấy các công-việc tay chúng nó làm mà chọc giận ta; nên cơn thạnh-nộ ta sẽ đổ ra trên chỗ nầy, không hề nguôi. 26 Còn vua Giu-đa đã sai các ngươi đi cầu-vấn Đức Giê-hô-va, các ngươi hãy nói cho người như vầy: Về các lời ngươi đã nghe, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán như vầy: 27 Khi ngươi nghe lời ta phán nghịch cùng chỗ nầy, và nghịch cùng dân-cư nó, thì ngươi có lòng mềm-mại, hạ mình xuống trước mặt ta, xé áo ngươi, và khóc-lóc tại trước mặt ta; bởi vậy cho nên ta cũng có nghe ngươi. 28 Kìa, ta sẽ khiến ngươi về cùng tổ-phụ ngươi, ngươi sẽ được chôn bình-an, và mắt ngươi sẽ chẳng thấy các tai-vạ ta toan giáng xuống trên chốn nầy cùng trên dân-cư nó. Chúng bèn tâu lại cho vua những lời ấy.
29 Vua bèn sai người nhóm các trưởng-lão Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. 30 Đoạn, vua đi lên đền Đức Giê-hô-va, có hết thảy người Giu-đa, dân-cư Giê-ru-sa-lem, những thầy tế-lễ, người Lê-vi, và cả dân-sự, từ nhỏ đến lớn, đều đi theo người; người đọc cho chúng nghe các lời của sách giao-ước đã tìm được trong đền của Đức Giê-hô-va. 31 Vua đứng tại chỗ mình, lập giao-ước trước mặt Đức Giê-hô-va, hứa đi theo Đức Giê-hô-va, hết lòng hết ý gìn-giữ các điều-răn, chứng-cớ, và luật-lệ của Ngài, đặng làm trọn lời giao-ước đã chép trong sách ấy. 32 Người cũng khiến những người ở Giê-ru-sa-lem và Bên-gia-min ưng theo giao-ước ấy. Vậy, dân-cư Giê-ru-sa-lem đều làm theo giao-ước của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời của tổ-phụ họ.
Giô-si-a phá-hủy sự thờ hình-tượng
(2 Các vua) 23 4 Vua bèn truyền lịnh cho thầy tế-lễ thượng-phẩm Hinh-kia, cho mấy thầy phó-tế, và các người giữ cửa đền-thờ, cất khỏi đền-thờ của Đức Giê-hô-va hết thảy những khí-giới người ta làm đặng cúng thờ Ba-anh, Át-tạt-tê, và cả cơ-binh trên trời. Người bảo thiêu các vật đó ngoài Giê-ru-sa-lem, trong đồng ruộng Xết-rôn, rồi đem tro nó đến Bê-tên. 5 Người cũng đuổi những thầy cả của các tà-thần mà những vua Giu-đa đã lập, đặng xông hương trên các nơi cao trong những thành Giu-đa và tại các nơi chung-quanh Giê-ru-sa-lem; cũng đuổi đi những thầy cả dâng hương cho Ba-anh, cho mặt trời, mặt trăng, huỳnh-đạo, và cả cơ-binh trên trời. 6 Người cất hình-tượng Át-tạt-tê khỏi đền-thờ của Đức Giê-hô-va, đem nó ra ngoài Giê-ru-sa-lem, đến khe Xết-rôn, thiêu-đốt nó tại đó và nghiền ra tro, rồi rải tro ấy trên mồ của thường-dân. 7 Người lại phá những phòng của bợm vĩ-gian ở trong đền-thờ của Đức Giê-hô-va, là nơi đó người nữ dệt những trại cho Át-tạt-tê.
8 Người cũng đòi đến hết thảy những thầy tế-lễ ở các thành Giu-đa, làm ô-uế những nơi cao mà chúng nó có xông hương, từ Ghê-ba cho đến Bê-e-Sê-ba; lại phá những bàn-thờ lập tại cửa thành, tức tại cửa Giô-suê, quan cai thành, ở về phía bên tả, khi vào cửa thành. 9 Song, những người đã làm thầy tế-lễ các nơi cao, thì chẳng được lên đến bàn-thờ của Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem; song họ ăn bánh không men với anh em mình. 10 Người cũng làm ô-uế Tô-phết tại trong trũng con-cái Hi-nôm, hầu cho từ rày về sau, không ai được đưa con trai hay là con gái mình qua lửa cho Mo-lóc. 11 Người trừ-bỏ những con ngựa các vua Giu-đa dâng cho mặt trời, ở nơi cửa vào đền Đức Giê-hô-va, tại nơi công-đường của quan hoạn Nê-than-Mê-léc, trong hành-lang của đền-thờ; còn những xe của mặt trời, thì người thiêu-đốt.
12 Vua Giô-si-a cũng phá những bàn-thờ mà các vua Giu-đa đã cất trên nóc nhà lầu của vua A-cha; lại những bàn-thờ mà Ma-na-se có dựng lên trong hai hành-lang của đền-thờ Đức Giê-hô-va, thì người đập bể, cất đem khỏi chỗ, và rải bụi nát nó trong khe Xết-rôn. 13 Vua cũng làm ô-uế những nơi cao ở tại trước Giê-ru-sa-lem, bên phía hữu núi Tà-tịch, là những nơi cao mà Sa-lô-môn, vua Y-sơ-ra-ên, đã cất lên để cúng-thờ Át-tạt-tê, thần-tượng quái-gở của dân Si-đôn, Kê-mốt, thần-tượng quái-gở của dân Mô-áp, và Minh-côm, thần-tượng gớm-ghiếc của dân Am-môn. 14 Người bẻ gãy các trụ-thờ, đánh đổ các hình-tượng Át-tạt-tê, và chất đầy hài-cốt tại chỗ nó đã đứng.
24 Giô-si-a cũng trừ-diệt những đồng-cốt và thầy bói, những thê-ra-phim (Thê-ra-phim là một thứ tà-thần người ta thờ ở trong nhà), và hình-tượng, cùng hết thảy sự gớm-ghiếc thấy trong xứ Giu-đa và tại Giê-ru-sa-lem, đặng làm theo các lời luật-pháp đã chép trong sách mà thầy tế-lễ Hinh-kia đã tìm đặng trong đền-thờ của Đức Giê-hô-va.
(2 Sử ký) 34 33 Giô-si-a cất hết thảy sự gớm-ghiếc khỏi các xứ thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, và buộc hết thảy những người ở xứ Y-sơ-ra-ên phải phục-sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ. Trọn đời Giô-si-a, chúng hằng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ-phụ họ, chẳng lìa-bỏ Ngài.
(2 Các vua) 23 15 Lại, người phá bàn-thờ tại Bê-tên, và nơi cao mà Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, đã lập, tức là người đó gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội; người phá bàn-thờ ấy, thiêu-đốt nơi cao, và cán nghiền thành ra tro bụi; cũng thiêu-đốt tượng Át-tạt-tê.
16 Giô-si-a xây lại chợt thấy những mồ-mả ở trên núi; người bèn sai lấy hài-cốt ở trong những mồ-mả ấy, rồi thiêu nó trên bàn-thờ, làm cho bàn-thờ bị ô-uế, y như lời của Đức Giê-hô-va, mà người của Đức Chúa Trời đã báo-cáo trước. 17 Đoạn, vua hỏi rằng: Bia ta thấy đó là chi? Các người thành ấy đáp rằng: Ấy là mồ-mả của người Đức Chúa Trời ở Giu-đa, đến báo-cáo trước về những việc mà vua đã làm cho bàn-thờ tại Bê-tên. 18 Người tiếp: Hãy để hài-cốt ấy bình-yên, chớ ai dời đi. Vậy, chúng chẳng dời hài-cốt của người, cùng hài-cốt của đấng tiên-tri ở Sa-ma-ri mà ra.
19 Giô-si-a cũng dỡ hết thảy chùa-miễu của các nơi cao ở tại trong thành Sa-ma-ri, mà các vua Y-sơ-ra-ên đã lập đặng chọc giận Đức Giê-hô-va, phá-hủy các nhà đó như đã làm trong Bê-tên. 20 Người giết tại trên bàn-thờ những thầy cả của các nơi cao, và thiêu hài-cốt ở trên. Đoạn, người trở về Giê-ru-sa-lem.
Giô-si-a giữ lễ Vượt-qua trọng-thể
(2 Sử ký) 35 1 Giô-si-a giữ lễ Vượt-qua cho Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem; ngày mười bốn tháng giêng, họ giết con sinh về lễ Vượt-qua. 2 Người cắt những thầy tế-lễ giữ chức-phận mình, và khuyên giục chúng về việc của đền Đức Giê-hô-va. 3 Người phán cùng những người Lê-vi vẫn dạy-dỗ cả Y-sơ-ra-ên, và đã biệt mình riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va, mà rằng: Hãy để hòm thánh tại trong đền mà Sa-lô-môn, con trai của Đa-vít, vua Y-sơ-ra-ên, đã xây-cất; các ngươi không cần còn khiêng hòm ấy trên vai. Bây giờ, hãy phục-sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi và giúp việc cho Y-sơ-ra-ên là dân-sự của Ngài; 4 các ngươi hãy tùy tông-tộc và ban-thứ các ngươi, mà dọn mình cho sẵn, chiếu theo lệ-luật mà Đa-vít, vua Y-sơ-ra-ên, và Sa-lô-môn, con trai người, đã chép. 5 Đoạn hãy đứng trong nơi thánh, theo thứ-tự tông-tộc của anh em các ngươi, là dân Y-sơ-ra-ên, và theo thứ-tự tông-tộc của người Lê-vi. 6 Các ngươi hãy giết con sinh về lễ Vượt-qua, biệt mình riêng ra thánh, và sắm-sửa lễ Vượt-qua thế cho anh em các ngươi, để làm y như lời của Đức Giê-hô-va cậy Môi-se phán. 7 Giô-si-a ban cho dân-sự những súc-vật nhỏ, số là ba vạn chiên con và dê con, cùng ba ngàn con bò đực, dùng trọn về lễ Vượt-qua cho các người có mặt tại đó; các thú đó đều bắt nơi sản-vật của vua. 8 Các quan-trưởng cũng đều đành lòng ban súc-vật cho dân-sự, cấp cho thầy tế-lễ và người Lê-vi. Hinh-kia, Xa-cha-ri, và Giê-hi-ên, là các người quản-đốc đền Đức Chúa Trời, cấp cho những thầy tế-lễ, hai ngàn sáu trăm con chiên, và ba trăm con bò để dùng về lễ Vượt-qua. 9 Cô-na-nia, Sê-ma-gia, Na-tha-na-ên, và các anh em người, Ha-sa-bia, Giê-i-ên, và Giô-xa-bát, là các quan-trưởng của người Lê-vi, đều cấp cho người Lê-vi năm ngàn con chiên, và năm trăm con bò để dùng về lễ Vượt-qua.
10 Vậy, việc tế-lễ đã sắp-đặt rồi, những thầy tế-lễ đều đứng tại chỗ mình, và người Lê-vi cứ theo ban-thứ mình, y theo mạng-lịnh của vua. 11 Người Lê-vi giết con sinh về lễ Vượt-qua, và những thầy tế-lễ nhận lấy huyết nơi tay chúng mà rảy nó ra; còn người Lê-vi thì lột da con sinh. 12 Chúng để những của-lễ thiêu riêng ra, đặng phân-phát cho dân-sự, theo thứ-tự tông-tộc của họ, để dâng cho Đức Giê-hô-va, tùy theo đều đã chép trong sách của Môi-se: họ cũng làm như vậy về các con bò đực. 13 Chúng theo lệ định, mà quay thịt con sinh về lễ Vượt-qua; còn những vật thánh thì nấu trong cái nồi, cái vạc, và cái chảo, rồi hối-hả đem phân-phát cho cả dân-sự. 14 Kế sau, chúng lo sắm-sửa vật dùng cho mình và cho những thầy tế-lễ; vì những thầy tế-lễ, là con-cháu A-rôn, đều mắc việc dâng của-lễ thiêu và mỡ cho đến chiều tối; vì vậy, người Lê-vi sắm-sửa vật dùng cho mình và cho những thầy tế-lễ, là con-cháu của A-rôn. 15 Những người ca-hát, là con-cháu của A-sáp, đều ở tại chỗ mình, tùy theo lệ của Đa-vít, A-sáp, Hê-man, và Giê-đu-thun, đấng tiên-kiến của vua, đã định; các người canh cửa đều ở tại mỗi cửa, không cần rời khỏi việc mình, vì anh em của họ, là người Lê-vi, sắm-sửa vật dùng cho họ.
16 Nội ngày đó, các cuộc thờ-phượng Đức Giê-hô-va đã sắp-đặt rồi, để giữ lễ Vượt-qua, và dâng những của-lễ thiêu trên bàn-thờ của Đức Giê-hô-va, tùy theo mạng-lịnh của vua Giô-si-a. 17 Những người Y-sơ-ra-ên có mặt tại đó, đều giữ lễ Vượt-qua trong lúc ấy, và giữ lễ bánh không men trong bảy ngày. 18 Từ đời tiên-tri Sa-mu-ên, trong Y-sơ-ra-ên, người ta không có giữ lễ Vuợt-qua giống như vậy; cũng chẳng có vua nào trong các vua Y-sơ-ra-ên giữ lễ Vượt-qua giống như lễ Vượt-qua mà Giô-si-a với những thầy tế-lễ, người Lê-vi, cả dân Giu-đa, và Y-sơ-ra-ên có mặt tại đó, và dân-cư thành Giê-ru-sa-lem, đã giữ. 19 Người ta giữ lễ Vượt-qua nầy nhằm năm thứ mười tám đời Giô-si-a trị-vì.
26 Các công-việc khác của Giô-si-a, những việc thiện người làm cứ theo đều đã chép trong sách luật-pháp của Đức Giê-hô-va và các sự người, từ đầu đến cuối, kìa, đã ghi chép trong sách các vua Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.
Triều đại của Giô-si-a thực sự là một thời kỳ đỉnh cao trong lịch sử Giu-đa, nhưng điều đó sẽ không đủ để chuộc tội cho ba thế kỷ tội lỗi của Y-sơ-ra-ên. Bài học rõ ràng là tội lỗi đôi khi tạo ra những hậu quả nhất định mà ngay cả những thiện ý tốt về sau cũng không thể ngăn cản được.